Nhiều ý kiến góp ý về điện hạt nhân, giảm thuế cho cá nhân và doanh nghiệp

Thảo luận tại tổ, các đại biểu Quốc hội đóng góp nhiều ý kiến để tháo gỡ vướng mắc cho các dự án và chính sách lớn liên quan đến điện hạt nhân, giảm thuế cho cá nhân và doanh nghiệp.

 Quang cảnh phiên thảo luận tổ vào chiều 21-8. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

Quang cảnh phiên thảo luận tổ vào chiều 21-8. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

Tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, chiều 21-8, các thành viên Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai tham gia thảo luận tại tổ về Dự án Nghị quyết về việc giảm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp; việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập; cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.

Nhiều vướng mắc pháp lý khi tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận

Góp ý về dự thảo Nghị quyết việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập, đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh ghi nhận phương án trình của Chính phủ đã giải quyết đúng các vấn đề gốc theo chủ trương của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng giải pháp đưa ra chưa thật sự triệt để và dễ phát sinh vướng mắc khi thực hiện.

 ĐB Lê Hoàng Anh lưu ý về cơ chế báo cáo, giám sát đối với chương trình điện hạt nhân. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

ĐB Lê Hoàng Anh lưu ý về cơ chế báo cáo, giám sát đối với chương trình điện hạt nhân. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

Theo dự thảo Nghị quyết, Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận được tách thành 3 dự án độc lập, bao gồm: Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phục vụ các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1; Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2.

ĐB Lê Hoàng Anh đặc biệt lưu ý quy định từ Nghị quyết số 41/2009/QH12 của Quốc hội (về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận) sẽ hết hiệu lực ngay khi Dự án Ninh Thuận 1 được quyết định chủ trương đầu tư có thể dẫn đến nhiều hệ lụy.

Đại biểu cho rằng mục tiêu tổng thể của chương trình điện hạt nhân Ninh Thuận là cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, với 2 nhà máy có tổng công suất tối thiểu 4.000 MW. Khi Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 được tách thành 2 chủ trương đầu tư độc lập, nếu Nghị quyết số 41/2009/QH12 hết hiệu lực thì sẽ không còn nghị quyết của Quốc hội ràng buộc mục tiêu tổng thể và bảo đảm tính liên tục, thống nhất giữa 2 dự án.

Cùng với đó, một số nhiệm vụ Chính phủ được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 41/2009/QH12 như đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu tài nguyên Urani mang tính điều phối chung cho toàn chương trình, không gắn với riêng dự án nào. Nếu Nghị quyết số 41/2009/QH12 hết hiệu lực, các nhiệm vụ này cũng không còn cơ sở pháp lý rõ ràng.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát các cơ chế, chính sách đặc thù liên quan. Bởi Nghị quyết số 189/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 121/2026/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho 3 dự án độc lập được tách ra từ Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận được ban hành trên cơ sở Nghị quyết số 41/2009/QH12. Do đó, việc Nghị quyết số 41/2009/QH12 hết hiệu lực cần được tính toán để tránh khoảng trống pháp lý đối với các cơ chế này.

Một vấn đề khác được ĐB Lê Hoàng Anh lưu ý là cơ chế báo cáo, giám sát đối với chương trình điện hạt nhân.

Theo Nghị quyết số 41/2009/QH12, Chính phủ quy định cơ chế báo cáo, giám sát chuyên biệt đối với dự án, trong đó có những yêu cầu định kỳ liên quan đến quá trình triển khai và an toàn hạt nhân. Nếu Nghị quyết số 41/2009/QH12 hết hiệu lực, cơ chế này sẽ không còn, trong khi việc chỉ thực hiện theo các quy định giám sát chung có thể chưa đáp ứng yêu cầu đối với một dự án có quy mô vốn lớn và tính chất đặc thù như điện hạt nhân.

ĐB Lê Hoàng Anh đặc biệt lưu ý vấn đề hạch toán chi phí giải phóng mặt bằng dùng chung cho Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.

Theo dự thảo, dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng được xác định là dự án độc lập, phục vụ đồng thời 2 dự án và do Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa quyết định đầu tư bằng nguồn ngân sách Trung ương. Trong khi đó, Ninh Thuận 1 do EVN thực hiện theo cơ chế đầu tư công, còn Ninh Thuận 2 do PVN thực hiện theo cơ chế đầu tư của doanh nghiệp.

Theo đại biểu, sự khác nhau về chủ thể đầu tư và chế độ hạch toán sẽ đặt ra nhiều vấn đề khi kết chuyển, phân bổ chi phí giải phóng mặt bằng vào tổng mức đầu tư của từng dự án.

Cụ thể, dự thảo chưa làm rõ tiêu chí phân bổ đối với các khoản chi phí dùng chung như quản lý dự án, tư vấn, hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước phục vụ cả 2 nhà máy. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế pháp lý cụ thể để xử lý việc kết chuyển tài sản hình thành từ nguồn vốn ngân sách Trung ương sang dự án Ninh Thuận 2 do doanh nghiệp thực hiện.

Đại biểu cũng cho rằng do dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư nên chưa có mức vốn làm cơ sở đối chiếu, xác định phần chi phí vượt mức để áp dụng các quy định của Luật Đầu tư công.

Từ những vấn đề trên, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị cơ quan soạn thảo, Bộ Tài chính nghiên cứu kỹ để báo cáo Chính phủ, có giải pháp xử lý đồng bộ các hệ lụy phát sinh.

Đại biểu đề xuất thay vì ban hành một nghị quyết mới, thì có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 41/2009/QH12, trong đó quy định rõ việc tách các dự án và đồng thời xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh từ việc tách này. Cách làm này sẽ bảo đảm tính liên tục về cơ sở pháp lý, đồng thời thuận lợi hơn trong quá trình triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Đề xuất nâng mức giảm thuế lên 50% để hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp, ĐB Đinh Ngọc Quý đánh giá cao sự quyết đoán, kịp thời của Chính phủ trong đề xuất chính sách, cũng như việc Quốc hội đưa nội dung này vào chương trình kỳ họp theo thủ tục rút gọn.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng hồ sơ dự thảo nghị quyết cần được bổ sung, làm rõ hơn cơ sở lựa chọn mức giảm thuế 30%, nhất là về số lượng đối tượng được thụ hưởng và mức độ tác động thực tế của chính sách.

 ĐB Đinh Ngọc Quý đề nghị Chính phủ có thêm số liệu tổng hợp sơ bộ về số lượng cá nhân, doanh nghiệp được hưởng chính sách giảm thuế. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

ĐB Đinh Ngọc Quý đề nghị Chính phủ có thêm số liệu tổng hợp sơ bộ về số lượng cá nhân, doanh nghiệp được hưởng chính sách giảm thuế. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh

Theo đại biểu, Chính phủ đã đưa ra nhiều căn cứ để giải trình mức giảm 30%, trong đó có việc tham chiếu các chính sách từng được áp dụng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính năm 2008 và thời kỳ Covid-19, cũng như đánh giá tác động đến ngân sách nhà nước.

ĐB Đinh Ngọc Quý đề nghị Chính phủ có thêm số liệu tổng hợp sơ bộ về số lượng cá nhân, doanh nghiệp được hưởng chính sách giảm thuế. Đây là cơ sở để Quốc hội đánh giá rõ hơn mức độ bao phủ của chính sách và hiệu quả mà chính sách mang lại.

Đại biểu cho biết, theo tính toán trong hồ sơ, tác động đến ngân sách nhà nước trong 2 năm vào khoảng hơn 6.500 tỷ đồng, tương đương hơn 3.000 tỷ đồng mỗi năm.

Từ con số này, đại biểu đặt vấn đề cần đánh giá tương quan giữa quy mô ngân sách giảm thu và mức hỗ trợ thực tế đối với doanh nghiệp, cá nhân. Nếu số lượng đối tượng được thụ hưởng rất lớn thì mức giảm 30% có thể giúp mở rộng diện hưởng lợi, nhưng phần nguồn lực thực tế được giữ lại để doanh nghiệp tích lũy, đầu tư và đóng góp trở lại cho tăng trưởng có thể không lớn.

Do đó, đại biểu cho rằng cần nghiên cứu mức giảm phù hợp hơn, chẳng hạn có thể cân nhắc mức 50%, đồng thời mở rộng ngưỡng doanh thu áp dụng chính sách lên 20 tỷ đồng, nhằm tăng mức hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp và cá nhân.

Theo đại biểu, vấn đề quan trọng là lựa chọn mức giảm thuế vừa bảo đảm hài hòa với khả năng cân đối ngân sách, vừa đủ tạo tác động để hỗ trợ, cải thiện thực tế hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

MAI LÂM

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/nhieu-y-kien-gop-y-ve-dien-hat-nhan-giam-thue-cho-ca-nhan-va-doanh-nghiep-post595745.html