Nhịp vó ngựa và khát vọng vươn mình

Từ chiến mã giữ nước đến biểu tượng tinh thần trong đời sống hôm nay, con ngựa in dấu bền bỉ trong lịch sử và ký ức văn hóa của người Việt.

Từ chiến mã giữ nước đến đời sống dân gian

Trong lịch sử Việt Nam, hình tượng con ngựa gắn liền với những trang sử giữ nước và mở cõi. Từ truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt nhổ tre đánh giặc Ân, đến những đoàn kỵ binh tung hoành trên chiến trường chống ngoại xâm, ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn là sức mạnh quân sự, biểu trưng cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

Hình ảnh ngựa sắt trong truyền thuyết Thánh Gióng không đơn thuần là huyền thoại, mà hàm chứa tư duy rất sớm của người Việt về sức mạnh, về khát vọng bảo vệ độc lập. Con ngựa được chế tác bằng kim loại, vật liệu bền chắc nhất thời bấy giờ cho thấy tổ tiên ta đã gửi gắm vào đó niềm tin về một sức mạnh phi thường, đủ để chống lại ngoại xâm, giữ yên bờ cõi.

 Từ truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt nhổ tre đánh giặc Ân có thể thấy ngựa trong tâm thức người Việt không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn là biểu trưng cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Ảnh AI: Xuân Lực.

Từ truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt nhổ tre đánh giặc Ân có thể thấy ngựa trong tâm thức người Việt không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn là biểu trưng cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Ảnh AI: Xuân Lực.

Ở các triều đại phong kiến, ngựa được xếp vào nhóm “lục súc” quan trọng, được Nhà nước quản lý, chăm sóc và tuyển chọn. Những trạm dịch ngựa nối dài từ kinh thành đến các trấn ải xa xôi không chỉ phục vụ triều chính mà còn góp phần gắn kết quốc gia trong bối cảnh địa hình chia cắt.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nhận định: “Ngựa là biểu thị của sức mạnh, của sự bền bỉ, gắn bó với con người trong đời sống và cả trong sự nghiệp lớn. Từ truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt chống giặc Ân, đến các đội kỵ binh thời Lý – Trần, ngựa luôn gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc”.

Theo ông, cùng với voi, ngựa là loài vật gắn bó mật thiết với công cuộc bảo vệ độc lập. Trong các cuộc kháng chiến thời phong kiến, chiến binh Việt Nam cưỡi ngựa để cơ động, để đánh giặc, để giữ từng tấc đất. Ngay cả quân Nguyên – Mông, một trong những đạo quân thiện chiến nhất lịch sử thế giới, cũng dựa chủ yếu vào sức ngựa khi xâm lược nước ta. Điều đó cho thấy vai trò đặc biệt của loài vật này trong nghệ thuật quân sự thời trung đại.

 Bác Hồ cưỡi ngựa trong một chuyến công tác ở Tây Bắc. Ảnh tư liệu: TTXVN.

Bác Hồ cưỡi ngựa trong một chuyến công tác ở Tây Bắc. Ảnh tư liệu: TTXVN.

Đến thời hiện đại, trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, hình ảnh con ngựa vẫn hiện diện trong đời sống cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần cưỡi ngựa khi hoạt động ở chiến khu. Tuy nhiên, khi chiến tranh bước sang giai đoạn vũ khí hiện đại, vai trò quân sự của ngựa dần khép lại, nhường chỗ cho những phương thức tác chiến mới. Từ đây, con ngựa bắt đầu một hành trình khác: rời chiến trường để bước sâu hơn vào đời sống văn hóa.

“Con ngựa trở thành biểu tượng của sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, thể hiện tình thân hữu và sự gần gũi. Con ngựa cũng mang lại may mắn cho mỗi gia đình, mỗi người. Những ai cầm tinh con ngựa thường tự hào bởi loài vật này gắn liền với sự nhanh nhẹn, kiên cường và thủy chung – từ trong chiến đấu đến đời sống thường nhật”, ông Phúc nói.

Khi tiếng vó ngựa chiến trường lùi xa, con ngựa hiện diện trong đời sống dân gian với dáng vẻ gần gũi, bền bỉ hơn. Ở các tỉnh miền núi như Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang…, ngựa là bạn đường của người đi rừng, người thồ hàng, người vượt đèo.

Trên những con dốc quanh co, giữa mây núi trập trùng, dấu chân ngựa in đậm nhịp sống lao động của đồng bào vùng cao.

TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch, cho biết trước đổi mới khoảng 30–40 năm, ngựa đối với người dân vùng cao quan trọng như xe máy ngày nay. Từ vận chuyển phân bón, thóc giống đến nông sản khi thu hoạch, con ngựa gắn bó với đời sống của mỗi gia đình, trở thành người bạn thân thiết.

Không chỉ là công cụ lao động, ngựa còn gắn với hôn nhân và tình yêu ở nhiều dân tộc miền núi. Trong lễ cưới, có nghi thức dắt ngựa, cô dâu mới được cưỡi ngựa. Chi tiết ấy phản ánh quan niệm tôn trọng phụ nữ, coi hôn nhân là sự gắn kết thiêng liêng cần được nâng niu và gìn giữ.

Trong chiến trận vùng biên, ngựa được xem như là “chiến binh” của mỗi gia đình, giúp chống giặc và bảo vệ bản làng. Với nhiều cộng đồng, ngựa vừa là phương tiện sinh tồn, vừa là biểu tượng của sức mạnh bảo vệ bản làng.

Theo TS Trần Hữu Sơn, khi chức năng kinh tế của ngựa dần thu hẹp, giá trị văn hóa của nó lại được chuyển hóa sang những không gian mới.

“Ngựa hiện diện trong nghệ thuật, tín ngưỡng, lễ hội và du lịch. Ở Bắc Hà (Lào Cai), lễ hội đua ngựa được phục dựng từ năm 2005 và đến nay đã trở thành sự kiện văn hóa – du lịch nổi tiếng của cả vùng”, ông cho biết.

Ngựa trong tín ngưỡng và biểu tượng tinh thần

Trong chiều sâu tâm linh, ngựa mang nhiều lớp nghĩa biểu tượng. Theo quan niệm dân gian, ngựa là con vật mang dương khí mạnh, tượng trưng cho tốc độ, sự trung thành và ý chí tiến lên. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, các Thánh Cô, Thánh Cậu thường cưỡi ngựa – biểu hiện cho khả năng đi lại giữa các cõi, giữa trần gian và thế giới linh thiêng.

 Giải đua ngựa truyền thống ở Bắc Hà (Lào Cai) thu hút hàng vạn du khách tới xem mỗi năm. Ảnh: Dân Việt.

Giải đua ngựa truyền thống ở Bắc Hà (Lào Cai) thu hút hàng vạn du khách tới xem mỗi năm. Ảnh: Dân Việt.

Không ít lễ hội truyền thống vẫn lưu giữ hình tượng ngựa: lễ rước ngựa ở đền Phù Đổng (Hà Nội), ngựa thờ trong các đình làng Bắc Bộ, hay ngựa giấy trong nghi lễ tâm linh. Ngựa trở thành “phương tiện tinh thần”, giúp con người gửi gắm ước vọng, niềm tin và lời cầu nguyện.

Trong tranh dân gian Đông Hồ, Kim Hoàng, hình ảnh “Mã đáo thành công” được treo trang trọng mỗi dịp Tết, gửi gắm ước vọng hanh thông, thuận lợi. Con ngựa trong tranh thường quay đầu về phía trong nhà – một chi tiết nhỏ nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc: đi xa để trở về, thành công để phụng sự gia đình và quê hương. Đó cũng là cách người Việt nhìn nhận về thành đạt: không tách rời cội nguồn.

Trong ngôn ngữ đời sống, những thành ngữ như “đầu ngựa cuối thuyền”, “ngựa quen đường cũ”, “một ngựa một mình” vẫn phản ánh cách người Việt dùng hình ảnh ngựa để nói về nhân cách, số phận và lựa chọn của con người.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc khẳng định: “Ý nghĩa văn hóa của ngựa không hề phai nhạt. Đó là dấu ấn truyền thống, là mối quan hệ mang giá trị văn hóa cần được giữ gìn và nhân rộng, dù trong đời sống hiện đại, ngựa không còn giữ vai trò kinh tế như trước”.

Ngày nay, khi máy móc thay thế sức ngựa, hình ảnh con ngựa không còn phổ biến trong lao động sản xuất. Nhưng trong chiều sâu văn hóa, ngựa vẫn sống động – như một biểu tượng bền bỉ của ký ức và khát vọng.

Gửi một thông điệp qua hình tượng con ngựa cho năm mới, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc cho rằng Việt Nam đang bước vào thời kỳ “phi mã” – giai đoạn phát triển nhanh, mạnh và đòi hỏi niềm tin vào chính mình. “Hình ảnh con ngựa phi nước đại là biểu tượng của khát vọng vươn lên, của sự tự tin và bền bỉ. Đó cũng là hình ảnh của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình, bứt phá”, ông chia sẻ.

Từ chiến mã trên chiến trường xưa đến biểu tượng tinh thần trong đời sống hôm nay, con ngựa đã đi một hành trình dài cùng lịch sử dân tộc. Dấu vó ngựa không chỉ in trên những con đường đất, mà còn in sâu trong ký ức văn hóa của người Việt – như một lời nhắc nhở về sức mạnh, lòng trung thành và khát vọng tiến về phía trước, bền bỉ và không ngừng nghỉ.

Quỳnh An

Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/nhip-vo-ngua-va-khat-vong-vuon-minh-post194526.html