'Nhớ bà' – Từ thi ca, đến đề kiểm tra giữa học kỳ môn Ngữ văn Lớp 12
Bài thơ 'Nhớ bà' của Đặng Vương Hưng là một khúc hồi tưởng đậm chất trữ tình về hình ảnh người bà trong ký ức tuổi thơ. Được sáng tác năm 2017 và in trong tuyển tập 'Lục bát mỗi ngày' (NXB Văn học, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2021), bài thơ sử dụng thể lục bát quen thuộc, để gợi lại một thế giới quê nhà bình dị, nơi tình cảm gia đình, ký ức chiến tranh và nét văn hóa dân gian hòa quyện vào nhau. Qua dòng hồi ức của chủ thể trữ tình, hình ảnh người bà hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng, đại diện cho lớp người phụ nữ nông thôn Việt Nam chịu thương chịu khó, âm thầm hy sinh cho gia đình và quê hương.

Di ảnh cụ bà Nguyễn Thị Đức (1884 – 1970, ngày giỗ: 6 tháng 3 âm lịch hằng năm). Cụ có chồng là nghĩa binh tham gia khởi nghĩa Yên Thế; con trai là đội viên Du kích Bắc Sơn, lão thành Cách mạng - một trong 4 đảng viên đầu tiên của vùng Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh - được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương trước 1945. (Tư liệu đen trắng, do TTNL chuyển màu).
Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bằng cách mở ra từ kí ức rất nhỏ bé nhưng sâu sắc. Chỉ từ “tiếng thạch sùng”, “đêm mưa dột trên mùng”, hay “miếng trầu khô miệng bình vôi”, người đọc đã được đưa trở lại không gian nhà quê quen thuộc. Những chi tiết đời thường ấy không chỉ là hình ảnh tả thực mà còn là cánh cửa ký ức dẫn chủ thể trữ tình trở về tuổi thơ gắn với bà. Trong dòng nhớ ấy, người bà hiện lên với dáng vẻ lam lũ: “còng lưng vẫn chiếc áo tơi ra đồng”, “đội mưa, cõng nắng”. Những câu thơ giản dị nhưng có sức nặng, gợi cảm sâu sắc về sự nhọc nhằn của người phụ nữ nông thôn xưa.
Cảm xúc của chủ thể trữ tình phát triển theo dòng hồi tưởng. Ban đầu là nỗi nhớ nhẹ nhàng, gợi từ giấc mơ và những kỷ niệm tuổi thơ. Nhưng càng đi sâu vào ký ức, nỗi nhớ ấy dần trở thành niềm thương cảm và kính trọng trước cuộc đời vất vả của bà. Người phụ nữ làng quê xưa không chỉ chăm lo gia đình mà còn gánh chịu mất mát do chiến tranh: chồng và con “ra trận mãi không thấy về”. Sự chờ đợi ấy khiến hình ảnh của bà trở nên bi tráng mà cảm động: “Đèn dầu đợi suốt đêm đông”, “bà đợi ông ở triền đê”. Ở đây, nỗi nhớ của người cháu không chỉ là nhớ một cá nhân mà còn là sự tri ân đối với một thế hệ phụ nữ đã hy sinh cả đời vì gia đình.
Đến cuối bài thơ, cảm xúc được đẩy lên cao trào khi người cháu nhận ra bà đã vĩnh viễn ra đi: “Chỉ còn nấm mộ bà tôi giữa đồng”. Câu thơ kết thúc giản dị nhưng lắng đọng, gợi một khoảng trống lớn trong tâm hồn. Nỗi nhớ bà cũng đồng thời khiến chủ thể trữ tình “thương mẹ”, cho thấy sự tiếp nối tình cảm gia đình qua các thế hệ.
Từ góc nhìn văn hóa, bài thơ tái hiện rất rõ không gian văn hóa nông thôn Bắc Bộ. Những hình ảnh như miếng trầu, bình vôi, áo tơi, nón lá, triền đê, ruộng đồng đều là biểu tượng quen thuộc của đời sống làng quê. Đặc biệt, hình ảnh bà “nói thành tục ngữ, ca dao” dù “chẳng biết chữ nào” thể hiện nét đẹp của văn hóa truyền miệng dân gian: tri thức và đạo lý được lưu truyền qua lời nói, qua câu hát ru và truyện kể. Bà cũng thuộc Truyện Kiều, kể chuyện cổ tích – điều cho thấy vai trò của người bà như người gìn giữ ký ức văn hóa của gia đình và cộng đồng.
Bên cạnh đó, bài thơ còn phản ánh dấu ấn lịch sử chiến tranh trong đời sống nông thôn. Những người đàn ông ra trận tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, còn người phụ nữ ở lại gánh vác gia đình, chờ đợi trong mòn mỏi. Qua hình ảnh bà, tác giả khắc họa chân dung tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: nhẫn nại, thủy chung, giàu đức hy sinh.
Tóm lại, “Nhớ bà” không chỉ là một bài thơ hoài niệm cá nhân mà còn là bức chân dung văn hóa và lịch sử của làng quê Việt Nam. Qua nỗi nhớ da diết của người cháu, hình ảnh người bà trở thành biểu tượng của tình thân, của truyền thống gia đình và của những giá trị bền vững trong đời sống dân tộc.

Nhà giáo, nghệ sĩ Bùi Thị Minh Loan (ảnh do nhân vật cung cấp).
Nhà thơ Đặng Vương Hưng đã trân trọng gửi lời cảm ơn Trường THPT Nguyễn Huệ - Lagi tỉnh Lâm Đồng, đã vừa sử dụng bài thơ “Nhớ bà” làm đề kiểm tra giữa học kỳ 2, năm học 2025 – 2026, cho môn thi ngữ văn lớp 12. Cảm ơn nhà giáo Bùi Thị Minh Loan đã gợi ý cho tác giả hoàn thiện bài thơ này!
NHỚ BÀ...
Ngủ mơ nghe tiếng thạch sùng
Nhớ đêm mưa dột trên mùng bà tôi
Miếng trầu khô miệng bình vôi
Còng lưng vẫn chiếc áo tơi ra đồng
Đèn dầu đợi suốt đêm đông
Chồng con ra trận mãi không thấy về
Dáng bà cong cả triền đê
Đội mưa, cõng nắng, chở che suốt đời
Truyện Kiều đọc ngược, kể xuôi
Bao nhiêu cổ tích bà tôi thuộc lòng
Nuôi con, nuôi cháu thay chồng
Hát ru rải khắp ruộng đồng thấp cao
Nói thành tục ngữ, ca dao
Nhưng bà chẳng biết chữ nào, lạ chưa!
Một đời cõng nắng đội mưa
Mồ hôi ướt cả những trưa lưng còng
Ngày bà nhắm mắt theo ông
Cha tôi ra trận vẫn không thấy về
Đám tang đông kín ngõ quê
Trống kèn vang mãi bờ đê cuối làng
Tàn xuân mỗi độ hạ sang
Đồi trung du vẫn chang chang nắng hè
Rạ rơm mùa gặt bộn bề
Vẫn nghe tiếng trẻ nhà quê nói cười
Bà tôi lam lũ một đời
Quần đen nón lá áo tơi ra đồng
Nuôi con nuôi cháu thay chồng
Ông tôi ra trận mãi không thấy về...
Bà đợi ông ở triền đê
Đợi hoài vẫn nhớ lời thề áo nâu
Buồn vui bỏm bẻm nhai trầu
Nhớ thời cắt cỏ chăn trâu ngoan hiền
Ngày bà về với tổ tiên
Chồng con ra trận vẫn biền biệt xa
Bao nhiêu năm tháng đã qua
Bỗng nhiên thương mẹ, nhớ bà, Người ơi...
Lớn lên biết nhớ thương Người
Chỉ còn nấm mộ bà tôi giữa đồng…
Mời nghe ca khúc "Nhớ bà tôi" do “Soldier’s Heart”.M thực hiện.
Hà Nội, 17/3/2026
TTNL











