Nhớ mãi thi nhân chở đá xây đời
Hữu Loan, nhà thơ chiến sĩ của dân tộc cũng là ông Tú Loan, tên gọi thân thuộc, kính trọng của dân làng Vân Hoàn, Bảo Văn, Bạch Câu... nghèo mà yêu thơ. Đất Nga Sơn vàng ươm hạt lúa, mướt xanh cây cói mênh mang biển xa, trập trùng núi dựng là quê hương nguồn cội của thi cảm Hữu Loan.

Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010). Ảnh: Phạm Phú Thang
Nhà thơ Hữu Loan, tên khai sinh Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1916 ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh (nay là xã Nga Sơn), tỉnh Thanh Hóa. Con một gia đình nông dân nghèo. Nhà ông ở dưới chân núi Vân Hoàn - hàm nghĩa mây trắng quay về, bên dòng sông Lèn chảy miên man đổ ra bể lạch Sung. Bố ông là người ham văn nghệ, hát chèo, hát bội. Có thời gian bán ruộng, gán vườn lấy tiền cho cậu bé Loan đi học. Cậu Loan học sơ yếu ở huyện, mãi năm 1937 ông mới lên học trường College ở thị xã Thanh Hóa. Yêu mến cậu học trò nghèo có chí, học giỏi, gia đình ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng Thanh tra Nông lâm Đông Dương mời làm gia sư dạy cho con gái Lê Đỗ Thị Ninh mới chừng 6 tuổi. Duyên trời hợp se, sau này cô học trò nhỏ ấy cảm yêu thầy và kết duyên vợ chồng, dù họ hơn kém nhau 16 tuổi.
Chàng thanh niên trí thức Nguyễn Hữu Loan sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động Việt Minh từ năm 1936 ở quê nhà. Năm 1941, Hữu Loan thi đỗ Tú tài Tây ở Hà Nội, từ đó dân làng yêu mến gọi ông là Tú Loan. Năm 1945, ông lãnh đạo khởi nghĩa ở Nga Sơn làm Phó Chủ tịch lâm thời huyện. Tháng 9/1945, chàng thanh niên cách mạng Tú Loan được điều về làm Ủy viên văn hóa lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách 4 ty: Giáo dục, Thông tin, Công chính và Thương chính. Năm 1947, theo yêu cầu của cấp trên, Hữu Loan gia nhập quân đội, làm Chính ủy Liên khu IV, được Tướng Nguyễn Sơn cử làm Chủ bút Báo Chiến sĩ của Sư đoàn 304 Liên khu IV ở Huế với các nhà thơ, nhà văn Vũ Cao, Nguyễn Đình Tiên... Năm 1950, Tướng Nguyễn Sơn - một vị tướng quý tài hiểu tật của thi sĩ - rời miền Trung ra Bắc, lại cộng thêm vợ mới mất, Hữu Loan xin ra quân chuyển về quê dạy học. Hòa bình lập lại trên đất nước, năm 1954, Hữu Loan được mời ra làm Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, là sáng lập viên thành lập Hội năm 1957.
Năm 1958, Hữu Loan thôi công tác, dứt áo rời Hà Nội về quê cày ruộng, cuốc vườn, kéo te, cất vó và thồ đá ở núi Vân Hoàn kiếm sống nuôi gia đình cho đến ngày về cõi thiên thu: 18/3/2010. Một người cách mạng có lý tưởng, một chiến sĩ trung kiên của Quân đội Nhân dân, một tâm hồn thơ nồng ấm tình yêu đất nước dừng gót đường đời ở tuổi 94.
Đường đời nhà thơ Hữu Loan dài cực nhọc gần một thế kỷ. Đường thơ của ông thì ngắn, ngời sáng hơn 10 năm gói trọn trong thời gian dữ dội, khí phách của cuộc Cách mạng Tháng Tám và chín năm đánh Pháp thần thánh. Với nhà thơ Hữu Loan, nhà thơ - nhà phê bình Anh Chi viết thật minh triết: “Thi sĩ tiền chiến Nguyễn Nhược Pháp để lại một dấu ấn tuyệt đẹp trong một thời đại thơ ca rực rỡ của nước Việt bởi 12 bài thơ. Còn Hữu Loan là dấu ấn đặc sắc trong thời đại tiếp theo cũng rực rỡ như thơ ca Việt Nam và chỉ với 10 bài”. Có nhà thơ trân trọng đánh giá: Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Hồng Nguyên, Hữu Loan là bộ tứ bình của thơ ca kháng chiến xứ Thanh.
Hồn cảm thơ Hữu Loan là dòng mạch tự sự trữ tình, thi pháp kể chuyện truyền thống có nhân vật, có sự việc nhưng được nâng lên cảm xúc cấu trúc mới, từ ngữ chọn lọc chắc khỏe. Câu thơ ngắt nhịp xuống dòng giàu âm điệu tiết tấu. Đó là nhịp bước quân hành của người lính Vệ quốc trên dặm dài gồ ghề đèo cao, vực thẳm dải đất miền Trung thương nhớ. Đất nước quê hương là đề tài xuyên suốt cảm hứng của nhà thơ chiến sĩ Hữu Loan. Cảnh quê hương thân yêu: con sông, bến nước, mái đình, cây đa lúc nào cũng trực diện trong trái tim nhà thơ. Dòng sông dạt dào sóng vỗ, chóp núi mờ sương, ô ruộng xanh xanh, góc vườn hoa lá mờ ảo mà gần gũi:
Một làng xa nho nhỏ
Đẹp như là trong mơ
Có cô em gánh lúa
Đường rất nhiều hoa mua
Có cô em áo vá
Ấm
hương còn đến giờ.
(Những làng đi qua).
Đó là em gái mến yêu, em là quê hương trong nỗi nhớ người đi xa:
Trong mắt em
Hình ảnh quê ta
Làm sao mà rạo rực
Anh kiêu hãnh
Có quê hương
Bất khuất
Và có người yêu là
Em gái quê hương.
(Hoa lúa).
Dòng thơ kể chuyện, đong đầy tình yêu, chở đầy tự hào kiêu hãnh về quê hương. Thơ Hữu Loan chỉ có kể, tả mà dựng được cả khung trời thương nhớ qua tình làng, nghĩa xóm gắn kết cộng đồng làm nên sự vững bền của dân tộc, quốc gia: Những chiều sang nhau/ Uống nước chè/ Bên bậc cửa/ Gọi nhau qua rào/ Đi nhổ mạ sáng trăng (Hai người lính cùng làng).
Đâu cũng là làng, đâu cũng là nhà, dặm dài đất nước hiện ra theo nhịp bước quân hành:
Có thôn xa
Dăm mái tranh nghèo
Cát thiêu
Nắng đốt
Trăng hè mênh mông
Lá lúa thì đỏ
Củ khoai thì xanh.
(Những làng đi qua).
Và: Quê em đồng chiêm/ Nước trắng/ Mênh mông/ Núi xanh/ Làng xanh/ Lênh đênh” (Yên Mô). Cảnh sắc làng quê Trung bộ quanh co, mộc mạc, gân guốc ẩn hiện đẹp như câu ca dao: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ.
Làng quê ấy, chòm bản kia mờ ảo trong sương âm vang đồng lúa, xanh tươi hàng dừa lũy tre đang ngập trong lửa cháy, bom rơi của giặc:
Những gác chuông giáo đường
Giữa đô thành tiêu thổ
Những dãy nhà Chung
Mở muôn cửa sổ
Nắng vang
Chuông đung đưa
Ngân như là tiếng hát
Trên hoang tàn tha ma.
(Mắt em ngấn lệ).
Lời thơ tụng khúc nguyện cầu khắc vào người đọc một ý chí phải cầm súng lên đường giữ yên tháp chuông, gốc đa, mái đình làng quê.

Các đại biểu thực hiện nghi thức gắn biển tên phố Hữu Loan ở khu đô thị Vinhomes Star City. Ảnh: Lê Hòa
Bài thơ “Đèo Cả” là khúc tráng ca vút cao của cảm xúc thơ Hữu Loan với tình yêu Tổ quốc. Bài thơ được sáng tác năm 1946 khi nhà thơ đang làm Báo Chiến sĩ được một đơn vị bộ đội cấp ngựa cho vượt Đèo Cả. Con đèo hùng vĩ, ngoằn ngoèo, chạy dọc Trường Sơn, kề bên biển cả thăm thẳm vạm vỡ ngút trời. Cảnh vật núi non, biển lớn như gấm, như hoa, con người đẹp đầy chí khí anh hùng của dải đất miền Trung xưa đã lộng lẫy trong thơ Trần Mai Ninh: Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc/ Mây lồng và nước reo/ Nắng bột chen dừa Tam Quan/ Gió buồn uốn éo/... Tôi lim dim cặp mắt/ Không thấy nơi nào không đẹp/ Không giàu/ Lúa xanh như biển rộng... (Tình sông núi). Nay lại vạm vỡ trong những câu thơ hồn vía của Hữu Loan:
Đèo Cả!
Đèo Cả!
Núi ngất trời
Mây trời Ai Lao
Sầu đại dương
Dặm về heo hút
Đá Bia mù sương.
Ngôn từ chắc gọn, kết cấu dồn dập như trập trùng vó ngựa muôn dặm vượt đèo lên. Cảnh nước non hùng vĩ được tạc trong thế đứng oai hùng tự chủ của người lính Cụ Hồ:
Tóc
râu
trùm
vai rộng
Không nhận ra người làng
Rau khe
cơm vắt
Áo phai màu sa trường
...Những người lính Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu.
Thành công của Hữu Loan là chỗ tứ thơ thì cổ điển nhưng cấu trúc, hình tượng ngôn từ thì hiện đại. Thi pháp ngắt câu xuống dòng, nhịp thơ dồn dập nâng cánh cho câu thơ bay bổng. Bài thơ hiện đại, cách tân, phong cách mới mẻ của dòng thơ kháng chiến. Thơ hay là ở lý tưởng tâm hồn người viết với cuộc đời, đâu phải ở chỗ hô to, triết lý, đánh bóng câu chữ.
Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hữu Loan dịu hiền, đôn hậu, tảo tần, nhân vật chính trong cốt truyện nhiều bài thơ. Dáng hình họ thoáng hiện trên cánh đồng mờ xa, lẫn trong bề bộn công việc hàng ngày.
Đó là người mẹ của Quách Xuân Kỳ, người chiến sĩ Quảng Bình bất khuất kiên trung hy sinh vì đất nước. Mẹ mãi mong anh về:
Bà mẹ nuôi đến bữa
- Mẹ đợi con
Thằng Kỳ
Đợi bao nhiêu
mà con
vẫn còn đi
Trong tuyệt vọng
Mẹ tin con
chưa chết.
(Quách Xuân Kỳ).
Đó là em gái mỏng manh gieo gặt trên cánh đồng mưa sa, nắng đốt, nâng chăm từng hạt lúa củ khoai nuôi làng, nuôi quân. Em là “Hoa lúa” trên cánh đồng NGƯỜI:
Em là cô gái đồng xanh
Tóc dài
Vương hoa lúa
Đôi mắt em mang
chân trời quê cũ
giếng ngọt
cây đa
... Em ca giữa đồng xanh
bát ngát
Anh nghe quê ta
sống lại
hội mùa.
Em là tình yêu, niềm tin, chỗ dựa cho người đi đánh giặc:
Anh kiêu hãnh
có quê hương bất khuất
Và có người yêu là
Em, gái quê hương.
Bừng sáng câu thơ tràn đầy cảm xúc, ma mị, mê đắm người đọc:
Mắt em
Thăm thẳm
Đựng
màu quê hương.
(Hoa lúa).
“Hoa lúa” khúc ca đồng quê khỏe khoắn trong sáng là thi phẩm để đời của Hữu Loan. Nếu “Hoa lúa” thành công về thi pháp dựng cảnh tả tình, giọng điệu mượt mà đằm thắm thì “Màu tím hoa sim” lại là viên ngọc sáng, một thi phẩm vượt thời gian tỏa ngời vằng vặc trong dòng thơ tình hiện đại. Mỗi bài thơ đẫm lệ, ứa máu bao trái tim con người.
“Màu tím hoa sim” là chuyện tình có thật của chính tác giả. Hữu Loan viết bài thơ cho nỗi đau riêng mình. Những câu thơ khóc vợ đầm đìa máu và nước mắt. Cả một trời thương nhớ của kỷ niệm tình yêu và hạnh phúc tụ trong sắc màu thiên niên kỷ: màu tím thủy chung:
Ngày xưa
nàng yêu hoa
sim tím
Áo nàng
màu tím hoa sim
... Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài
trong chiều
không biết
Màu tím hoa sim
Tím
chiều hoang
biền biệt.
Nỗi đau, nỗi buồn không làm gục ngã người lính. Tình yêu thủy chung ấy được thơ kể còn mãi trong nhân thế, như những câu chuyện cổ tích đất Việt, trong trẻo tình đời, nâng con người vượt lên gian khó. Và bài thơ có thân phận chìm nổi như cuộc đời tác giả. Tuy vậy, hơn 70 năm nay “Màu tím hoa sim” vẫn sống cùng thời đại.
Người chiến sĩ cách mạng, người lính Cụ Hồ đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc có sự nghiệp thi ca không nhiều. Thơ là hồn cảm của trái tim nồng cháy Hữu Loan trước con người, sự kiện của cuộc kháng chiến chín năm thần thánh. Ông không nắn nót rành mạch tìm thơ mà tự tứ thơ, tình thơ, cảm xúc thơ ùa vào hồn vía thi sĩ để chảy tràn trên ngọn bút, trang giấy.
Tôi muốn lấy lời điếu của nhà thơ Hữu Thỉnh đọc tiễn biệt nhà thơ Hữu Loan trong tang lễ ngày 19/3/2010: “Ông ra đi thanh thản nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến đá giữa bà con xóm giềng; Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi thi nhân chở đá xây đời”.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/nho-mai-thi-nhan-cho-da-xay-doi-45752.htm
