Nhớ về cha

Cha tôi - Trung tướng Lê Quang Đạo, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - đi xa đã nhiều năm. Nhưng với gia đình chúng tôi, hình ảnh người cha vẹn toàn, tấm gương sáng cho con cháu vẫn còn đâu đây, như chưa hề chia xa...

Bắt đầu hoạt động cách mạng ở tuổi 17, cha tôi trải qua nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình công việc. Đó chính là môi trường khách quan đã “đào luyện” nên con người ông. Điều này thể hiện rõ nét trong tâm lý và kỹ năng của cha tôi. Đó là tâm lý bền bỉ trong vận động quần chúng và nhẫn nại trong làm việc, với cấp trên và cả cấp dưới. Đó là kỹ năng tiếp cận và thuyết phục. Đặc biệt là thỏa hiệp có nguyên tắc, một kỹ năng cốt lõi để tập hợp các thành phần xã hội khác nhau trong tổ chức, gắn kết bằng chương trình hành động chung, không phải bằng một ý thức chính trị chung.

Bốn môi trường tiêu biểu đã tạo nên con người cha tôi, ứng với 4 giai đoạn then chốt của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20. Đó là thời kỳ giành độc lập với hoạt động bí mật của ông trong chức trách lãnh đạo tổ chức đảng; thời kỳ bảo vệ độc lập với chức trách chỉ huy chính trị-quân sự, lãnh đạo ngành tuyên huấn Quân đội và chính ủy các chiến dịch lớn; thời kỳ xây dựng hệ thống pháp luật trong chức trách lãnh đạo Quốc hội - cơ quan lập pháp; thời kỳ đổi mới và pháp luật hóa công tác dân vận với chức trách lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức tập hợp và đoàn kết toàn dân.

Đi hoạt động, cha tôi phải bỏ dở lớp trung học ở Trường Thăng Long. Khát khao học tập, nâng cao tri thức chính trị nói riêng và kiến thức rộng nói chung là chuyện ông làm thường xuyên, trong suốt cuộc đời. Ở tuổi 40, ông đi học và tốt nghiệp Học viện Quân sự cao cấp Voroshilov, là cấp cao nhất đào tạo tướng lĩnh chỉ huy tập đoàn quân, quân đoàn của Liên Xô. Khi đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, cha vẫn có một danh mục tác phẩm kinh điển để đọc đều đặn mỗi đêm.

Tính cha luôn vui vẻ, hóm hỉnh rất duyên và cởi mở, dễ gần, nhân hậu, đó cũng là điểm nổi trội, nét đặc sắc của văn hóa và con người Kinh Bắc nơi ông sinh ra. Nhờ tình cảm bền chắc, với nét vui là nền tảng, ông dễ tiếp cận mọi người và luôn có tinh thần lạc quan trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tại Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa VIII.

Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tại Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa VIII.

Cha tôi lớn lên đúng vào thời của phong trào Thơ mới. Sau một thời gian chịu ảnh hưởng của văn minh Tây phương, trực tiếp là qua văn hóa Pháp, nền văn học Việt Nam đã “đơm hoa kết trái” với hàng loạt tác phẩm để đời. Điều này đã góp thêm vào nền tảng văn hóa Kinh Bắc ở ông, tạo nên nét nhân văn, bình đẳng, bác ái trong ứng xử với mọi người, không phân biệt giới tính, thành phần, lứa tuổi.

Những năm cha tôi làm việc ở Tổng cục Chính trị, nhất là khi mẹ tôi-nhà văn Nguyệt Tú đi học trường Đảng (1961-1964), ông trực tiếp chăm sóc chúng tôi. Đều đặn mỗi tuần, cha tôi nhắc các con, cả cậu con út khi đó 7-8 tuổi, viết thư cho mẹ và cùng đi gửi ở bưu điện Bờ Hồ, rồi đi mua sách, ăn kem. Mỗi lần các con lên lớp, khi vào bộ đội, cha tôi đều dặn dò thật lâu, như làm công tác tư tưởng cho chiến sĩ. Khi gia đình cơ sở cách mạng lên thăm và xin ý kiến tư vấn công việc, cha tôi đón tiếp tận tình, bỏ cả nghỉ trưa và ngày nghỉ, mời cơm, đưa quà chu đáo. Ông nói với các con: “Nhờ bà con che chở nuôi dưỡng nên cách mạng mới thành công”.

Năm 1969, Bộ tư lệnh 500 (cha tôi là Chính ủy) có sáng kiến gùi thồ xăng bằng ba lô, túi nhựa. Về việc này, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn có viết: “Anh Đạo điện cho tôi, nhẹ nhàng nhưng rất thuyết phục phải cần một thời gian để hai bộ tư lệnh giúp nhau khắc phục bằng được. Nhưng trước mắt phải gùi thồ xăng dầu sang cho anh”. Sau đó, lượng xăng dù ít nhưng việc này đã động viên mạnh mẽ khắp tuyến đường 559...

Làm việc với bất kỳ ai, về mọi đề tài, từ văn hóa, xã hội, ngoại giao đến kinh tế, khoa học kỹ thuật..., cha tôi lắng nghe từng chi tiết và hỏi cặn kẽ để hiểu thật rõ. Có tài ứng biến và diễn đạt mạch lạc nhưng mỗi lần phát biểu ở hội nghị, ông đều chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung, viết ra văn bản để đọc. Ông để lại mấy chục cuốn sổ tay ghi kín đặc và chi tiết nội dung các cuộc gặp, hội thảo, nhật ký chiến dịch, chuyến đi thăm các nước...

Cha tôi là người rất giữ nguyên tắc. Bên trong hội nghị, ông phát biểu quyết liệt bảo vệ chính kiến đến cùng, nhưng ra bên ngoài thì lặng thinh. Tại Hội nghị Trung ương 21 (khóa III, năm 1973) - hội nghị có tính lịch sử, xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới, cha tôi đã có bài nói dài hàng chục trang, phát biểu gần 30 phút. Để giữ bí mật, ông viết tay và thư ký riêng chép lại, không đánh máy. Nội dung góp ý thẳng thắn sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị với các lập luận khoa học, là điều đến năm đó chưa ai làm. Nhưng hết hội nghị, cha tôi “kín như bưng”.

Nhiều năm sau khi ông đi xa, không chút gì từ bài nói “dữ dội” này lọt ra ngoài. Gia đình tìm thấy bản viết tay trong tài liệu cha để lại. Mẹ tôi kể, khi tập trung căng thẳng để chuẩn bị bài nói này, ông đã ngất đi trong buồng tắm. Trước đó, trong Chiến dịch Trị Thiên năm 1972, ông cũng đã ngất ở sở chỉ huy.

 Đồng chí Lê Quang Đạo (thứ hai, từ trái sang) cùng các cán bộ bảo vệ, thư ký tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, năm 1968. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp

 Đồng chí Lê Quang Đạo (thứ hai, từ trái sang) cùng các cán bộ bảo vệ, thư ký tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, năm 1968. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp

Đầu năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đột ngột từ trần. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giới thiệu một người thay. Một số đoàn đại biểu đề cử một người khác. Quốc hội khóa VIII đã bầu người kế nhiệm theo một cách “vô tiền khoáng hậu”. Theo đúng tinh thần dân chủ của đổi mới, có tham khảo ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, cha tôi - khi ấy là Chủ tịch Quốc hội - chủ trì, kỳ họp lần đó đã chính thức đưa cả hai người vào danh sách để bầu chọn. Kết quả, người có nhiều phiếu hơn là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người có ít phiếu hơn là Phó chủ tịch.

15 năm cuối đời, ông lãnh đạo việc đổi mới công tác Mặt trận, chuyển đổi chương trình hành động của Mặt trận từ mục tiêu “độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội” sang “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Riêng tiêu chí “dân chủ” đã được cha tôi đề xuất từ đầu thập niên 1990 nhưng phải đến năm 2001, vài năm sau khi ông ra đi, mới được chấp nhận chính thức. Có vấn đề quan trọng, cốt lõi của nền chính trị quốc gia do cha tôi đưa ra từ hơn 30 năm trước, khi ông là Chủ tịch Quốc hội, vẫn mang tính thời sự và tranh luận còn chưa dứt.

Nói về ông, sinh thời, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân vẫn nhớ: “Mỗi khi đến họp Mặt trận Tổ quốc Trung ương, ai ai cũng thấy ông Lê Quang Đạo quan tâm đến mình. Ông luôn luôn có một biệt nhãn, khiến già cũng như trẻ, mọi người đều hoan hỉ đóng góp sức mình cho Mặt trận”.

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một bài viết nhận xét: Bản thân Lê Quang Đạo là một con người tiêu biểu cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Anh là một nhà lãnh đạo, chỉ huy ưu tú của Quân đội, một vị tướng có đủ những đức tính trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung như Bác Hồ đã dạy. Cống hiến của anh với Quân đội rất lớn cả về hai mặt xây dựng và chiến đấu. Lê Quang Đạo là con người trung thực, có tính nguyên tắc cao với tấm lòng nhân hậu, thương yêu đồng chí.

Bà con quê nhà, đồng chí, đồng đội và mọi người cùng thời, từng quen biết, công tác với ông đều có chung nhận xét, cha tôi là người thấu hiểu tâm lý mọi người, rất khéo về đối nhân xử thế. Nhưng trên hết, ông trong sáng, nhận rõ đúng, sai và không bao giờ đánh mất sự trung thực. Đó là điều quý báu nhất trong số quá nhiều đức tính tốt đẹp mà chúng tôi cần phải học theo. Một con người nói chung và một cán bộ của Đảng nói riêng, thật là mẫu mực!

TS NGUYỄN QUANG THẮNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/nho-ve-cha-1053588