Nhớ vườn cau mùa cũ
Những ai đang độ thất tuần, lục tuần có còn nhớ bài học thuộc lòng năm lớp hai dạo ấy không: Chiếc mo cau/ ruột trắng phau/ cơm chín tới/ tay mẹ xới/ ngạt ngào thơm/ tay mẹ đơm/ cơm deo dẻo/ tay mẹ khéo/ nắm cơm tròn… Riêng tôi thì mỗi độ hương cau thoảng bên vườn cũ lòng lại buồn buồn nhớ mẹ, nhớ da diết bài học xưa.

Cau là cây trồng truyền thống tại Tiên Phước, hợp với địa hình đồi núi, điều kiện thổ nhưỡng nơi đây. Ảnh: Tư liệu
Nhớ dáng mẹ bên rổ trầu cau, ông bình vôi, con dao xếp. Mẹ cùng mấy cụ hàng xóm, miệng ai cũng đỏ tươi, móm mém cười vui chuyện nước, chuyện làng.
Người quê sống hòa mình vào với tự nhiên mà ban cho tự nhiên một đời sống như người, mà ràng buộc con người vào với tự nhiên để nên mối tương giao mật thiết.
Vậy nên trong nhà có sự buồn thì dây trầu héo, thì buồng cau điếc, không phải là một mê tín, mà là một thực tế. Và, để giải thích cho mối tương giao kỳ diệu ấy họ sáng tạo nên câu chuyện Sự tích trầu cau.
Người trí thức chuộng trúc vì hư tâm trực tiết, người bình dân quý cau vì nghĩa vì tình. Bởi thế trong vườn người có chữ thường trồng bụi trúc mà trong vườn người bình dân thường trồng những hàng cau.
Mùa tháng Ba đến tháng Năm là mùa cau trổ bông. Hương cau bảng lảng về đêm quyện trong sương đậu lên mái rạ, len vào cửa sổ tưởng như nghe được, thấy được, sờ được.
Để cau đậu sai quả, mẹ thường gom lá vườn thành từng đống rồi un khói. Khói trắng quanh quẩn bên mái tóc mẹ, quanh quẩn trong vườn cũng một mùi thơm ngai ngái. Thi sĩ Kiên Giang đã ghi lại thật xúc động hình ảnh ngày xưa mẹ trong mùa cau vườn cũ: "Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ/ Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân/ Khói trắng trên trời hay tóc bạc/ Con ngờ tóc trắng quyện mây Tần".
Mùa thu hoạch cau vào độ tháng Tám, tháng Chín và kéo dài đến tận tháng Ba năm sau. Dường như khái niệm mùa thu hoạch cau chỉ mới xuất hiện những năm gần đây. Bởi với người nhà quê thuở trước, cau nằm trong cơi trầu của các cụ, cau trong lễ cưới hỏi. Cau không dùng như một món hàng để đổi chác bán mua.
Vào thời nhà Nguyễn, các mệ ngoài Huế thích ăn trầu, mà cau phải là cau Nam Phổ vùng Phú Thượng, Phú Vang. Về sau nhu cầu lên cao nên cau Tiên Phước, xứ Quảng Nam được các thương hồ đưa ra phụ cung. Mà phải là cau Tiên Phước thôi, cau các vùng quê khác không đủ độ ngọt, độ dẻo, độ thơm để phù hợp khẩu vị của giai tầng quý tộc, cau vẫn thủy chung với nhà quê. Mà nhà quê thì biếu cho, hiếm khi đổi chác, càng không mua bán. Thơm thảo mời nhau miếng trầu, ly nước chè xanh, vậy nên mới nói "thương nhau cau sáu bổ ba/ ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”.
Cau đủ độ dày, không non, không quá già, người quê hái xuống. Không lặt từng quả mà lấy cả buồng, gọi là "ngoặt”. Họ leo lên, có con dao xếp. Dùng dao rạch hai bên mép buồng cau, giật nhẹ, buồng rã ra khỏi thân cau, rồi đặt buồng cau lên đùi vế mình, tụt xuống.
Cau dày sau dùng tươi còn dư thì bổ sáu, miếng đủ dùng, phơi khô để dùng quanh năm, “cau sáu” là thế. Khi ước lượng đã đủ dùng thì cứ để cau tự chín, tự rụng, tự mọc mầm, đâm chồi.
Rồi cũng đến lúc buồng cau lên giá. Nghe đâu người nhà quê lên phố, đời sống đủ đầy, mà cưới hỏi thiếu buồng cau miếng trầu, thiếu cái duyên quê. Rồi mâm cau trầu lễ lạt giá cao, thương lái sục tìm khắp chốn cùng quê.
Hay nghe đâu các nước mang văn hóa Á Đông cũng biện lễ cau trầu, mà chất cau thì không đâu sánh bằng cau Việt. Có phải là do thổ nhưỡng?
Chỉ biết tục ngữ có câu "được mùa lúa, úa mùa cau”, bởi lúa cần mưa thuận gió hòa, còn cau thì rễ hút nước thân đón nắng, càng được nắng càng đượm chất. Mà Việt Nam, nhất là miền Trung lại là vùng nhiệt đới gió mùa nên được mùa cau đau mùa lúa.
Lang thang chuyện mùa cau, nghe như thinh không một đáp trả ân tình. Cau được giá, vườn nhà quê chỉ cần vài ba hàng cau cũng đủ để độ qua những khó khăn cập rập. Buồng cau này đám cưới, đám giỗ, buồng cau này sách vở học trò… vị trí cau chừ đứng ngang hàng con heo trong chuồng, bầy gà thả rông ở khoản phụ thu. Chưa nên giàu có, mà đã đỡ khó đỡ nghèo.
Chao, mừng chớ răng không!
Như đón được nhu cầu mới, những vườn quê chừ đã nhơm nhớm cau non, quy hoạch thẳng hàng, tiết kiệm diện tích đất và thêm phần thẩm mỹ. Bầy chim sẻ, chim dồn dột như cũng đón bắt luồng sinh khí mới mà tìm về vườn quê xây tổ, mỗi sáng sớm lại ríu rít tiếng chim chào ngày mới.
Hình hài đã tươi tắn, mời mọc, chỉ mong sao phần linh hồn cũng bền bỉ thẳm sâu: "Có phải duyên nhau thì thắm lại”! (Thơ Hồ Xuân Hương)
Hàng cau vươn cao trong nắng, bờ chè tàu xanh thẳm nôn nao, con đường làng đất đỏ đợi chờ… luôn là ký ức quê cựa quậy trong hồn người xa xứ. Người xa đâu đó sẽ về nhặt từng vuông ký ức. Em gái quê nhà nhớ siêng năng quét lá vàng un khói vào mỗi độ mùa hoa cau.
Thì, bền bỉ kiên trì giữ chút tinh khiết nhà quê giữa bao ồn ào nông thôn - phố thị!
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nho-vuon-cau-mua-cu-3342158.html











