Những áng thơ trên vách đá

Ngày nay, mỗi khi đến các thắng cảnh hang động của Lạng Sơn, chúng ta thường bắt gặp nhũng bài thơ viết bằng chữ Hán của cổ nhân đề trên vách đá. Nội dung thường là những bài thơ vịnh cảnh, thơ xướng – họa, ghi chép sự kiện… Đó thực sự là những trang sách đá đầy thi vị, một thành tố quan trọng của di sản văn hóa Lạng Sơn.

Thơ đề trên vách đá động Tam Thanh

Thơ đề trên vách đá động Tam Thanh

Là vùng đất trọng yếu “cửa ngõ, phên dậu” phía Bắc Tổ quốc, Lạng Sơn xưa từng là nơi làm việc của nhiều chức sắc do triều đình phong kiến Việt Nam cử lên cai quản, trấn trị biên cương; nơi các sứ giả dừng chân trên đường đi sứ, quan lại đi công cán qua đây... Trong số đó có nhiều vị quan văn tài năng xuất chúng, họ là những tác giả tên tuổi của văn học Trung đại Việt Nam như: Trần Nhân Tông (1258-1308), Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370), Phạm Sư Mạnh (đời Trần, thế kỷ XIV), Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Nguyễn Du (1765-1829), Ngô Thì Vị (1774-1821), … Xúc cảm, ấn tượng sâu sắc về vùng biên cương thiêng liêng của Tổ quốc có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, kỳ thú, họ đã viết những vần thơ chứa chan cảm xúc ghi dấu kỷ niệm về nơi mình đã sống, những vùng đất mình đã qua.

Khoảng từ thế kỷ XIII - XIV đã có những bài thơ viết riêng về Xứ Lạng, nhưng thơ văn khắc trên đá ở Lạng Sơn lại xuất hiện khá muộn. Sớm nhất hiện biết là những văn bia của Ngô Thì Sĩ. Ông chính là người đã khai sáng ra dòng thơ tạc trên đá ở Lạng Sơn bằng những bài thơ đề vịnh viết năm 1779. Tiếp đó là tiến sĩ Lê Hữu Dung - người kế nhiệm ông, quê ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương; anh em, con cháu trong dòng họ Ngô Thì của Ngô Thì Sĩ ở Tả Thanh Oai (Hà Nội) các vị quan Tuần phủ, Tổng đốc của Lạng Sơn thời Nguyễn như: Phan Đình Hòe, Nguyễn Trọng Vận; quan lại triều đình và quan tỉnh như: Tôn Thất Tố, Đoàn Đình Duyệt, Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Cơ; … Muộn nhất là bài thơ khắc dưới triều vua Bảo Đại (năm 1930) ở động Chùa Tiên. Tất cả khoảng 30 bài.

Thơ khắc trên vách đá ở Lạng Sơn tập trung chủ yếu tại các danh thắng nổi tiếng của tỉnh: động Nhị Thanh, Tam Thanh (phường Tam Thanh), chùa Tiên (phường Lương Văn Tri). Lẻ tẻ có một số bài ở các xã trong tỉnh: núi Háng Slẹc (xã Na Sầm), núi Nàng Tiên (xã Quốc Khánh), núi Đán Lài (xã Khánh Khê)... Hầu hết đều được sáng tác bằng chữ Hán, chỉ có hai bài thơ chữ Nôm: một ở động Nhị Thanh và một ở động Tam Thanh. Thơ trên văn bia thường được viết theo thể Đường luật dưới dạng: thất ngôn bát cú (8 câu, mỗi câu 7 chữ), thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu 7 chữ)... Vị trí được lựa chọn để khắc thơ là các vách đá cao, dễ nhìn thấy ở cửa hang động, ven đường đi tại những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, hữu tình. Chữ khắc trên bia kích thước nhỏ và trung bình nếu ở các vị trí thấp, nét chữ to hơn khi ở trên cao, đứng dưới cũng có thể dễ dàng đọc được. Mỗi bài thơ được khắc trang trọng trên mặt phẳng, trong khung bo hình chữ nhật giống như những trang sách mở để thưởng ngoạn đầy vẻ thi vị, tao nhã.

Nội dung của thơ khắc đá ở Lạng Sơn rất phong phú. Cảm hứng chủ đạo, bao trùm trong thơ khắc đá là vẻ đẹp, nét độc đáo của cảnh sắc thiên nhiên, con người Xứ Lạng. Lạng Sơn - xứ biên cương địa đầu Tổ quốc nước biếc, non xanh, núi sông kỳ vĩ luôn gợi trong lòng viễn khách rất nhiều cảm xúc, đặc biệt là đối với những người lần đầu đặt chân đến nơi đây. Tiêu biểu nhất là những sáng tác của danh nhân Ngô Thì Sĩ. Những năm làm Đốc trấn ở Lạng Sơn (1777-1780), mến yêu vùng đất, con người đã gắn bó, say mê vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên, Ngô Thì Sĩ đã sáng tác rất nhiều thơ văn ngợi cảnh quan nơi đây. Đó là những bài thơ cảm tác về các danh thắng nổi tiếng của Lạng Sơn, những miền đất đã qua trên đường kinh lý biên cương thuộc các huyện: Cao Lộc, Văn Lãng, Tràng Định (cũ)… Thiên nhiên Xứ Lạng trong thơ ông vừa thơ mộng, trữ tình, vừa sinh động, biểu cảm:

Khoản khoản tiêu lư cổ động du

Bồi hồi nham bạn dục tầm u

Thanh tuyền bách thạch giai năng ngữ

Bối lập tiền phong kiến vọng phu

(Thong thả cưỡi lừa chơi động xưa

Dùng dằng bên động cảnh càng ưa

Suối trong cuội đá, dường reo gọi

Núi trước nàng Tô dãi nắng mưa)

(Bia Tam Thanh số 2)

Xứ Lạng qua góc nhìn của Ngô Thì Sĩ không chỉ mang vẻ đẹp lộng lẫy của “giang sơn cẩm tú” mà còn là vùng đất hiểm yếu, kiêu hùng trường tồn ở nơi đầu sóng ngọn gió của đất nước:

Kim thang thành tiệm bằng cao thủ

Cẩm tú giang sơn tuyển thắng truyền

Yên ái ảnh đao không vọng Mẫu

Hạc tùng thanh cận lũ tầm Tiên

(Thành hào bền vững nhờ non hiểm

Sông núi gấm thêu cảnh tuyệt vời

Mây đẹp bóng đưa hòn Mẫu đứng

Hạc tùng gần sát động Tiên chơi)

(Trấn doanh bát cảnh)

Những bài thơ ông viết dọc đường kinh lý biên trấn Lạng Sơn năm 1779 là những bài thơ có sự kết hợp giữa tự sự và ghi chép sự kiện. Dưới góc nhìn của ông, Xứ Lạng những năm cuối thế kỷ XVIII không chỉ mang vẻ đẹp “sơn thủy hữu tình” của thiên nhiên, vẻ hùng tráng nơi miền biên cương Tổ quốc mà còn có cuộc sống yên bình, no ấm của nhân dân:

Sơn liên lưỡng quốc thanh phân giới

Thủy hối tam hà bích hợp lưu

Thu mã kiêm trường nhân tý lực

Đạo tàm các hảo địa cao sưu

Dân vô tật khẩu, biên vô sự…

(Non xanh hai nước phân ranh giới

Nước biếc ba dòng tụ lại đây

Người, ngựa, thuyền bè, kho vô tận

Tơ tằm, thóc lúa, ruộng xanh đầy

Dân yên, biên ải bình vô sự…)

(Bia Kéo Lếch)

Sau Ngô Thì Sĩ, nhiều du khách, văn nhân thuộc tầng lớp nho sĩ, quan lại đến đây cũng đã tiếp nối truyền thống đề thơ trên đá. Bên cạnh những vần thơ tự sự sâu lắng, cảm nhận tinh tế vẻ đẹp tiên cảnh của xứ Lạng, còn có những bài thơ xướng - họa được các tác giả sáng tác khi “ngao du sơn thủy”. Đó là những bài thơ của nguyên Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Văn Bân, Tri phủ Thường Tín Nguyễn Văn Cơ viết năm Bảo Đại thứ 4 (1929) tại động Chùa Tiên. Không gian thi vị của thiên nhiên xứ Lạng trở thành nơi diễn ra “cuộc chơi” tao nhã của các nhà Nho.

Đáng chú ý, trong số những bài thơ đề vịnh có nhiều bài kèm theo phần tiểu dẫn ghi rõ lý do, thời gian, bối cảnh sáng tác. Tiêu biểu là các bài: Diễn trận sơn của Ngô Thì Sĩ (viết năm 1779) ở Na Sầm; thơ ở động Nhị Thanh của Tiến sĩ Lê Hữu Dung (năm 1779), Ngô Thì Vị (năm 1814); thơ ở động Tam Thanh của Tôn Thất Tố, Đoàn Đình Duyệt (năm 1918)… Đó là những chi tiết rất thú vị, giàu tính tư liệu, cho ta hiểu rõ hơn về các sự kiện đã trải qua trong quá khứ ở Lạng Sơn. Trước khi khắc bài thơ Đường luật cảm tác về cảnh quan ở Tam Thanh, Tôn Thất Tố - một vị quan triều đình nhà Nguyễn thời vua Khải Định đã đề từ: “Ngày 16 tháng 3 mùa xuân Mậu Ngọ, Hoàng Thượng lên ngôi năm thứ 3 (1918), nhà vua xa giá ra Bắc Kỳ ngắm coi phong cảnh. Tố tôi được xung vào đoàn hộ giá. Ngày 20 đến Lạng Sơn, lên động Tam Thanh vãn cảnh. Tố được theo hầu, kính làm một bài thơ ghi lại sự việc”. Qua đó, các tác giả cho ta thấy hoàn cảnh sáng tác của bài thơ một cách rất cụ thể và chân xác.

Bên cạnh những bài thơ đề vịnh, vách đá động Nhị Thanh còn là nơi khắc những bài thơ hay có tính chất lưu niệm của cá nhân. Thời kỳ làm Hiệp trấn Lạng Sơn (1813 - 1817), Ngô Thì Vị (con út của Ngô Thì Sĩ) kỳ công cho khắc trên vách đá bên bờ suối Ngọc Tuyền chùm thơ gồm 8 bài. Đó là những bài thơ chúc tụng, động viên, căn dặn của anh em trong gia đình, dòng họ Ngô Thì, các vị quan chức đồng nghiệp trước khi ông tiếp bước cha lên đường nhận nhiệm sở ở trấn Lạng Sơn. Mục đích đã được ông nói rất rõ trong lời dẫn “là để luôn vững chí”, ghi nhớ những lời động viên, nhắc nhở của người thân mà làm tròn trọng trách được giao phó, xứng đáng với cha và truyền thống của gia đình, dòng họ. Tuy riêng tư nhưng rất giàu tính tư liệu. Nó giúp ta hiểu thêm về gia thế, sự nghiệp của Ngô Thì Vị và trọng trách của ông ở nơi biên cương phía Bắc Tổ quốc:

Minh chiếu hoàng hoàng thể phượng lai

Bán niên trấn tiết lưỡng thùy khai

Di linh Tuyên khổn chiêm văn diệu

Hề sắc lân bang đổ cự tài

Thanh động thảo hoa hân chí chỉ

Đoàn thành trúc mã phú chiêu tai

Chính tòng kế thuật phu thần quyến

Dự hỉ can thành hựu liệt thai

(Chiếu phượng vua ban rực rỡ khai

Nửa năm hai bận trấn biên ngoài

Xứ Tuyên đà tỏ tài văn học

Lân quốc nào ai tiếc tuấn tài

Hoa cỏ Nhị Thanh mừng hớn hở

Đoàn Thành phú ngựa đã an bài

Nối cha lại thỏa lòng vua mến

Mừng chúc danh thần nhắc đến ngài)

(Bia Nhị Thanh số 2)

Đề thơ trên vách đá là một mỹ tục của cổ nhân. Thơ khắc đá là loại hình di sản văn hóa rất có giá trị về lịch sử và văn học; là những tác phẩm góp phần quan trọng tạo nên “gương mặt” thơ ca Trung, Cận đại của Lạng Sơn. Những tư liệu gốc đó giúp ta hiểu rõ hơn về Lạng Sơn trong quá khứ, đặc biệt ở những khía cạnh chính sử không nhắc tới. Đó cũng là những thông điệp thú vị chứa đựng tình cảm, tâm hồn và cả ước vọng người xưa muốn gửi gắm đến mai sau. Ngày nay, những bài thơ trên đá thực sự là những trang sách mở làm say lòng người mỗi khi đến với non thiêng Xứ Lạng.

CHU QUẾ NGÂN

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/nhung-ang-tho-tren-vach-da-5077342.html