Những chuyến đi không hẹn ngày về

Giữa mịt mùng biển đêm và lằn ranh sống-chết, những thuyền nan lặng lẽ rẽ sóng từ đất liền ra đảo Cồn Cỏ, trở thành mạch sống nối hậu phương với tiền tiêu. Trên những chuyến đi ấy là những con người bình dị, mang theo lương thực, đạn dược và niềm tin tất thắng. Họ ra đi thầm lặng, trở về lặng lẽ, nhưng dấu ấn còn mãi với thời gian.

Những con thuyền từ lòng đất

Trong căn nhà nhỏ ở thôn Vịnh Mốc, xã Cửa Tùng, ông Hồ Văn Triêm (94 tuổi), vẫn nhớ rõ những năm tháng ở lòng đất quê hương. Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964, chiến tranh phá hoại lan rộng ra miền Bắc, Vĩnh Linh lại phải đối đầu với cuộc chiến tranh tàn khốc chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Trước đó, từ năm 1959, lực lượng bảo vệ đảo thuộc Trung đoàn 270 đã ra đóng giữ Cồn Cỏ, tạo thế đứng từ sớm cho vùng biển tiền tiêu.

“Muốn giữ được làng, giữ được người thì phải xuống lòng đất”, ông Triêm nói. Từ chủ trương ấy, hệ thống địa đạo nhanh chóng hình thành, từ những đường hầm nhỏ phát triển thành các cụm liên hoàn gắn với khu dân cư, sau này trở thành một phần của cụm di tích địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh. Người dân, dân quân, bộ đội cùng đào hầm, vừa trú ẩn, vừa duy trì sản xuất và phục vụ chiến đấu; đồng thời là nơi tập kết lương thực, vũ khí chi viện ra đảo Cồn Cỏ.

Ông Hồ Văn Triêm lần dở từng trang hồi ký “Người chở hàng ra đảo” - Ảnh: Q.N

Ông Hồ Văn Triêm lần dở từng trang hồi ký “Người chở hàng ra đảo” - Ảnh: Q.N

Địa đạo không chỉ bảo đảm đời sống mà còn phục vụ trực tiếp tuyến vận chuyển ra biển. Đầu năm 1965, Mỹ tăng cường máy bay, tàu chiến nhằm cắt đứt tuyến tiếp tế. Tuyến vận tải do Hải quân đảm nhiệm bị lộ, nhiệm vụ chuyển sang cho bộ đội và dân quân khu vực Vĩnh Linh. Trên đảo, tình hình ngày càng nguy cấp khi lương thực, đạn dược cạn dần, nước ngọt khan hiếm, bộ đội phải chặt chuối rừng vắt lấy nước uống. Những bức điện cầu cứu liên tục gửi về đất liền.

Trước tình thế ấy, Khu ủy Vĩnh Linh xác định: “Đảo là quả tim, dân Vĩnh Linh là mạch máu”. Với cương vị xã đội phó, ông Hồ Văn Triêm viết đơn tình nguyện ra khơi; nhiều người cao tuổi ven biển cũng tham gia, các hợp tác xã sẵn sàng bàn giao thuyền.Hàng hóa được tập kết trong địa đạo, đưa ra bờ biển khi trời tối để bốc lên thuyền. Tất cả đều chèo tay, không dùng máy nhằm giữ bí mật; việc xuất phát phụ thuộc vào thời tiết và tình hình hoạt động của địch. “Biển yên, trời tối, địch sơ hở thì đi. Không thuận lợi là phải dừng lại”, ông Triêm cho biết. Giai đoạn 1965-1968, thuyền của ông thực hiện hàng chục chuyến vận chuyển, có năm hơn 50 chuyến, mỗi chuyến chở vài tấn lương thực, vũ khí.

Trên biển, mỗi chuyến đi đều đối mặt với hiểm nguy. Đêm 4/8/1965, thuyền của ông bị tàu địch phát hiện và bao vây giữa biển, 2/6 người trên thuyền hy sinh, nhiều người bị thương. Cuối tháng 6/1966, trong một chuyến đột phá mở đường ra đảo, thuyền của người anh ruột ông trúng đạn. Sau khi đưa hàng vào đảo, ông quay lại tìm đồng đội, cứu được một số người, nhưng người anh trai không qua khỏi. “Đi là xác định có thể không trở về, nhưng vẫn phải đi, vì nhiệm vụ”, ông Triêm chia sẻ. Những ký ức ấy sau này được ông ghi lại trong cuốn hồi ký “Người chở hàng ra đảo”.

Tuyến vận tải đặc biệt

Không phải ai cũng trực tiếp ra khơi, nhưng mỗi người ở Vĩnh Linh đều góp phần vào những chuyến đi ấy. Ông Nguyễn Tri Phương (SN 1952), ở thôn Vịnh Mốc, xã Cửa Tùng, từ nhỏ đã tham gia đào địa đạo Vịnh Mốc và phục vụ hậu cần. Cuộc sống dưới lòng đất chật hẹp, thiếu ánh sáng; người dân phải dùng tre làm đuốc, mọi sinh hoạt đều tính toán để tránh bị phát hiện. Có thời điểm, gần 400 người cùng sinh sống trong địa đạo, ban ngày sản xuất, trực chiến, ban đêm vận chuyển hàng hóa.

Ông Phương là lực lượng đưa hàng từ địa đạo ra bờ biển. “Lương thực, vũ khí, nhu yếu phẩm từ nhiều nơi được chuyển về, ban ngày cất giấu, ban đêm đưa ra thuyền. Những lúc chuyển hàng lên thuyền, anh em rất đông, vừa làm, vừa động viên nhau”, ông Phương cho biết.

Ông Nguyễn Tri Phương cùng tác giả bên một cửa ra của địa đạo Vịnh Mốc hướng ra biển - Ảnh: Q.N

Ông Nguyễn Tri Phương cùng tác giả bên một cửa ra của địa đạo Vịnh Mốc hướng ra biển - Ảnh: Q.N

Ngoài biển, những chuyến đi diễn ra trong điều kiện khắc nghiệt. Ông Nguyễn Như Mễ (84 tuổi), ở thôn An Hòa 1, xã Cửa Tùng, nhớ lại thời điểm tháng 5/1965, Đại đội 22 làm nhiệm vụ tiếp tế cho đảo được thành lập. Lực lượng gồm 40 chiến sĩ nòng cốt, 80 dân quân 4 xã ven biển gồm: Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Thạch, Vĩnh Thái (nay là xã Cửa Tùng). Phương tiện là thuyền nan dài 10m-15m, chở 2-3 tấn hàng. Toàn đội có 12 thuyền, mỗi thuyền 6 người gồm 3 dân quân và 3 bộ đội.

Việc vận chuyển thuận lợi nhất từ tháng 3-9, khi phải bảo đảm lương thực, vũ khí cho đảo sử dụng cả năm. Mỗi chuyến đi đều tổ chức bí mật, nhận lệnh buổi chiều, hoàn tất bốc xếp, đến tối xuất phát. Từ năm 1965-1968, tuyến đường ra đảo trở thành “con đường máu”. Trong điều kiện bị bao vây, các chuyến thuyền vẫn nối tiếp nhau để giữ vững nguồn chi viện cho đảo. “Trên trời pháo sáng như ban ngày, mặt biển thì đạn bắn không ngớt. Chúng tôi vừa chiến đấu, vừa giương buồm hướng đảo mà đi”, ông Mễ nhớ lại.

Theo lịch sử Đảng bộ huyện Cồn Cỏ (nay là đặc khu Cồn Cỏ), với vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, Cồn Cỏ là đảo tiền tiêu trên tuyến biển miền Bắc, thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt khi chiến tranh leo thang. Trong giai đoạn 1964-1968, máy bay Mỹ đã ném xuống đảo hơn 13.000 quả bom, hàng vạn quả rocket; tàu chiến pháo kích 172 lần với hơn 4.000 quả đạn pháo. Bình quân, mỗi ha đất phải hứng chịu 22,6 tấn bom đạn.

Kết thúc chiến tranh, Đại đội 22 cùng dân quân 4 xã ven biển huyện Vĩnh Linh (cũ) đã vận chuyển gần 7.000 tấn vũ khí, lương thực ra đảo Cồn Cỏ. Trên tuyến biển ấy, 76 chiến sĩ và dân quân đã hy sinh hoặc mất tích. Sau năm 1976, lực lượng được tổ chức lại, tiếp tục làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa ra đảo. Ngày 24/4/2013, Đại đội 22, Trung đoàn 270 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ lòng đất Vịnh Mốc đến mặt biển Cồn Cỏ, một tuyến vận tải đặc biệt đã hình thành trong điều kiện khắc nghiệt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng. Những con người bình dị đã góp phần giữ vững mạch nối giữa hậu phương và đảo tiền tiêu. Biển hôm nay đã bình yên, nhưng ký ức về những chuyến thuyền đi trong đêm vẫn còn đó, như một phần không thể tách rời của vùng đất tuyến đầu năm xưa.

Quang Ngọc

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/xa-hoi/202605/nhung-chuyen-di-khong-hen-ngay-ve-2746aeb/