Những 'cột mốc mềm' nơi biên cương: Hoàn thiện hành lang pháp lý
Thông tư 12/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông nội trú đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, mở ra nhiều điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng các trường đặc thù này.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cùng lãnh đạo địa phương trò chuyện với học sinh, giáo viên xã Ea Bung.
Từ thực tiễn triển khai, cùng với sự chủ động của nhà trường và địa phương, các giải pháp phù hợp đang dần được định hình, góp phần đưa chính sách vào cuộc sống một cách hiệu quả, bền vững.
Ông Nguyễn Văn Dương - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Na Mèo (Na Mèo, Thanh Hóa): Bước tiến mới cho giáo dục vùng biên giới

Ông Nguyễn Văn Dương.
Thông tư 12/2026/TT-BGDĐT đã thiết lập hành lang pháp lý thống nhất, vững chắc cho các trường phổ thông nội trú, đặc biệt tại khu vực biên giới như Na Mèo. Văn bản cụ thể hóa quy chế tổ chức, hoạt động, tuyển sinh và cơ cấu nhân sự, góp phần bảo đảm cơ hội học tập, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ.
Việc ban hành Thông tư là bước đi quan trọng trong triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục vùng biên. Đây cũng là cơ sở để các nhà trường tổ chức bộ máy, vận hành hiệu quả, thực hiện tuyển sinh đúng đối tượng, ưu tiên học sinh có hộ khẩu tại xã biên giới, con em cán bộ, lực lượng vũ trang đang công tác tại địa bàn. Thông tư đồng thời quy định rõ các chế độ, chính sách nhằm bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh, tạo môi trường giáo dục toàn diện, phù hợp với đặc thù vùng miền.
Từ góc độ thực tiễn, với hơn 20 năm công tác tại vùng biên, trong đó có 16 năm quản lý trường bán trú, có thể thấy mô hình trường phổ thông nội trú liên cấp, cùng với Thông tư 12/2026/TT-BGDĐT, đang mở ra hướng đi mới cho giáo dục khu vực này. Học sinh không chỉ được học tập trong điều kiện tốt hơn mà còn được chăm sóc, nuôi dưỡng toàn diện, từng bước hình thành kỹ năng sống và tính tự lập.
Những năm qua, dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự, đội ngũ giáo viên tại các trường bán trú vẫn nỗ lực nâng cao chất lượng dạy học, giúp học sinh tiến bộ rõ rệt. Khi mô hình nội trú được triển khai đồng bộ, hiện đại, đi kèm cơ chế, chính sách rõ ràng, đây sẽ là động lực quan trọng để tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục vùng biên.
Tuy vậy, khó khăn vẫn hiện hữu, nhất là tình trạng thiếu giáo viên bộ môn, nhân viên nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe. Đây là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm, bổ sung để mô hình trường nội trú phát huy hiệu quả bền vững trong thời gian tới.
Để phát huy hiệu quả Thông tư 12/2026 trong thời gian tới, nhà trường đã xây dựng các giải pháp cụ thể, đồng bộ.
Trước hết, nhà trường chủ động rà soát, loại bỏ các quy định nội bộ không còn phù hợp, tạo môi trường làm việc thông thoáng, giảm thủ tục hành chính. Các quy định mới được vận dụng linh hoạt trong quản lý, đồng thời tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Cơ sở vật chất hiện có cũng được khai thác tối đa, từ phòng học, ký túc xá đến sân chơi, bãi tập, bảo đảm môi trường học tập an toàn, thân thiện.
Song song đó, kế hoạch giáo dục được thiết kế phù hợp với đặc thù học sinh, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức dạy học. Quy chế tổ chức, hoạt động và tuyển sinh nội trú được xây dựng rõ ràng theo thứ tự ưu tiên; công tác quản lý nội trú, bán trú được thực hiện chặt chẽ, tạo niềm tin cho phụ huynh.
Nhà trường cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kiểm định chất lượng giáo dục, bảo đảm tính minh bạch, kịp thời. Các chính sách miễn học phí, hỗ trợ học sinh khó khăn được triển khai đầy đủ; đồng thời tăng cường quản lý, kết nối học sinh toàn diện, đặc biệt ngoài giờ chính khóa, hướng tới phát triển toàn diện cho người học.
Ông Thái Văn Lộc - Hiệu trưởng Trường THCS Võ Thị Sáu (Buôn Đôn, Đắk Lắk): Chủ động giải pháp từ cơ sở

Ông Thái Văn Lộc.
Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT đã tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc tổ chức và vận hành mô hình trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền trên toàn quốc.
Do Trường phổ thông nội trú xã Buôn Đôn đang trong quá trình đầu tư, xây dựng và chưa đi vào hoạt động, thực trạng về đội ngũ, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học chưa rõ ràng, vì vậy việc đưa ra đề xuất sát với thực tế còn gặp khó khăn. Tuy nhiên, với vai trò là cán bộ quản lý Trường THCS Võ Thị Sáu, tôi xin đề xuất các giải pháp và kiến nghị như sau.
Trước hết, để phát huy hiệu quả của Thông tư, nhà trường sẽ tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước tới nhân dân, phụ huynh và học sinh. Việc xây dựng kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện Thông tư sẽ được cụ thể hóa theo từng năm học, gắn với điều kiện thực tế của đơn vị, đặc biệt đối với các nhiệm vụ đặc thù. Nhà trường sẽ phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận, cá nhân, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ.
Việc bố trí và sử dụng đội ngũ sẽ bảo đảm đúng chuyên môn, đúng vị trí việc làm, kết hợp với tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra và đánh giá. Giáo viên sẽ được khuyến khích tự học, tự bồi dưỡng, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy. Song song đó, nhà trường sẽ xây dựng môi trường làm việc đoàn kết, hiệu quả; chủ động kiểm kê, sắp xếp và sử dụng hợp lý phòng học, phòng chức năng cùng thiết bị hiện có.
Trong công tác dạy học, nhà trường sẽ tích cực đổi mới phương pháp theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, tăng cường phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi; đồng thời quan tâm giáo dục toàn diện về đạo đức, kỹ năng sống, thể chất và thẩm mỹ. Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp và quản lý học sinh nội trú/bán trú cũng là ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, nhà trường sẽ tăng cường phối hợp chặt chẽ với gia đình, chính quyền địa phương và các đơn vị đóng chân trên địa bàn trong mọi hoạt động giáo dục.
Nhà trường đề xuất, đối với UBND tỉnh Đắk Lắk, cần phê duyệt đề án phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, bảo đảm đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu; đồng thời ban hành chính sách thu hút, đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác tại trường phổ thông nội trú ở vùng khó khăn. Tỉnh cũng cần chỉ đạo các sở, ngành liên quan phối hợp tháo gỡ khó khăn về biên chế, kinh phí và đầu tư cơ sở vật chất; xem xét đầu tư phương tiện đưa đón học sinh lớp 1, 2, 3 đi về trong ngày cho các em ở xa trường từ 15 đến 20 km.
Đối với Sở GD&ĐT, nhà trường kiến nghị tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ quản lý, giáo viên và nhân viên nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong công tác quản trị nhà trường, quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù.
Đồng thời, cần rà soát, điều tiết đội ngũ giữa các đơn vị để khắc phục tình trạng thừa – thiếu cục bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát các điều kiện bảo đảm chất lượng về nhân sự, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Sở cũng cần tham mưu UBND tỉnh ban hành các cơ chế đặc thù phù hợp với điều kiện địa phương, như bố trí giáo viên giảng dạy tiếng nước láng giềng cho các trường nội trú.
Đối với UBND xã Buôn Đôn, nhà trường đề nghị chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối hợp chặt chẽ trong triển khai các hoạt động giáo dục, nhất là các nội dung đặc thù. Cùng với đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực từ phụ huynh, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội để hỗ trợ nhà trường; tiếp tục quan tâm đầu tư, quản lý cơ sở vật chất, bảo đảm trường lớp đạt chuẩn theo quy định.
Ông Đào Tuấn Sơn - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT Hòa Bình (Phú Thọ): Cân bằng giữa “nuôi” và “dạy”

Ông Đào Tuấn Sơn.
Tại Thông tư 12/2026/TT-BGDĐT, nhiều nội dung quan trọng được làm rõ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trường nội trú. Trước hết, việc chuẩn hóa công tác quản trị giúp xác định rõ vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, giảm lúng túng trong việc cân bằng giữa “nuôi” và “dạy”.
Bên cạnh đó, cơ chế đặc thù góp phần tháo gỡ vướng mắc về tuyển sinh, tổ chức học tập (bán trú, nội trú) và quản lý hoạt động ngoài giờ – vốn là áp lực đặc thù của mô hình này. Đồng thời, việc phân cấp mạnh mẽ tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong phân bổ ngân sách, huy động nguồn lực xã hội chăm lo cho học sinh vùng biên.
Khi đưa chính sách vào cuộc sống, các nhà trường thường đối diện cả thuận lợi và khó khăn. Về thuận lợi, khung pháp lý mới tạo sự đồng thuận xã hội, giúp phụ huynh yên tâm khi gửi gắm con em; các chính sách hỗ trợ ăn, ở, học tập được triển khai minh bạch. Nhà trường cũng có cơ sở tập trung nguồn lực, đề xuất đầu tư đồng bộ từ phòng học, phòng thí nghiệm đến ký túc xá, nhà ăn; nhiều địa phương vì thế quan tâm hơn đến phát triển cơ sở vật chất và đội ngũ.
Tuy nhiên, khó khăn vẫn hiện hữu khi giáo viên nội trú phải đảm nhiệm nhiều vai trò, từ giảng dạy đến chăm sóc, tư vấn tâm lý, quản lý đời sống học sinh, trong khi chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Bên cạnh đó, một số trường vùng sâu, vùng xa còn hạn chế về quỹ đất, hạ tầng xuống cấp, việc nâng cấp đòi hỏi nguồn lực lớn và lộ trình phù hợp. Sự chênh lệch trình độ đầu vào của học sinh cũng là thách thức trong triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.
Để Thông tư 12 thực sự phát huy hiệu quả, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là xây dựng cơ chế đặc thù cho đội ngũ giáo viên, nhân viên nội trú, từ phụ cấp thu hút đến định mức tiết dạy; đồng thời tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tư vấn tâm lý, quản lý học sinh.
Về tài chính, cần ưu tiên nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư, nâng cấp hạ tầng. Về chuyên môn, cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng cá nhân hóa, tận dụng môi trường nội trú để phát triển kỹ năng sống, gìn giữ bản sắc văn hóa và định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh. Song song đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý học sinh sẽ góp phần giảm tải áp lực hành chính cho giáo viên, nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường.











