Những dấu mốc lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975:Bài 5: Giải phóng Trường Sa
Sự kiện giải phóng Trường Sa vào cuối tháng 4-1975 là một phần quan trọng trong bản hùng ca toàn thắng của dân tộc, gắn liền với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong bối cảnh cả nước đang hào hùng tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước, việc quân ta tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa không chỉ hoàn tất cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc khẳng định chủ quyền biển đảo. Sự kiện để lại dấu ấn lịch sử, khẳng định sức mạnh và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

Lực lượng Đặc công hải quân Đoàn 126 tuần tra tại khu vực cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa được giải phóng, ngày 29-4-1975. Ảnh: TTXVN
Nhãn quan chính trị, quân sự sắc bén
Trong hồi ức “Tổng Hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp viết: Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng: “vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975.
Theo đó, cùng với sự chỉ đạo chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, với nhãn quan chính trị, quân sự sắc bén đã chỉ đạo quyết liệt việc giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân ngụy Sài Gòn đóng giữ, một vùng lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế và quân sự.
Quân ủy Trung ương điều động đồng chí Hoàng Trà - Chính ủy Quân chủng Hải quân về làm việc bên cạnh Bộ Tổng Tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển, kiến nghị về nhiệm vụ của Hải quân trong trận tổng giao chiến cuối cùng. Đồng thời, Quân ủy Trung ương yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Ngoại giao cung cấp tài liệu về các đảo, quần đảo thuộc vùng biển của Việt Nam; chỉ thị cho Cục Quân báo nắm tình hình địch ở Biển Đông.
Nhãn quan chiến lược quân sự của Bộ Thống soái tối cao đã thấy rõ cần tổ chức giải phóng kịp thời phần đất này. Nhưng khó khăn lớn nhất của ta lúc này là đánh chiếm các đảo với lực lượng hải quân nhỏ bé. Trên mặt trận Biển Đông, hành động cũng phải “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.
Ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện, giao cho Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nghiên cứu, chỉ đạo, thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do Quân đội Sài Gòn chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa.
Ngày 2-4-1975, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó: Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa... Các đơn vị có nhiệm vụ sẵn sàng, có thời cơ là đánh được ngay, bảo đảm chắc thắng…
Trường Sa là một quần thể gồm trên 100 đảo nhỏ và bãi san hô ngầm, nằm ở Đông - Đông Nam bờ biển nước ta, trong một khu biển lớn với diện tích 180.000km2. Vào tháng 4-1975, Tiểu đoàn 371 Phước Tuy (khoảng 150 quân) của Quân đội Sài Gòn đóng giữ 5 đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa.
Ta vận dụng phương châm bí mật, bất ngờ tấn công, lợi dụng yếu tố thủy văn, đổ bộ lên đảo trong thời gian từ 0 giờ đến 2 giờ sáng. Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ huy chung.
Làm nhiệm vụ chở quân và tham gia chiến đấu gồm các tàu 673, 674, 675 của Phân đội 3 Đoàn 125, do Tham mưu trưởng Đoàn 125 Dương Tấn Kịch chỉ huy. Đơn vị trực tiếp giải phóng đảo là Đội 1, Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế. Trung tá Mai Năng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 126 chỉ huy trưởng, Dương Tấn Kịch tham mưu trưởng Đoàn 125 chỉ huy phó trực tiếp chỉ huy lực lượng tham gia giải phóng đảo.
Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo báo cáo, địch rút quân khỏi các đảo, Quân ủy Trung ương điện “tối khẩn” cho các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân, đồng điện đồng chí Hoàng Hữu Thái - Phó Tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng: Hành động kịp thời theo phương án đã định.
Ngày 10-4, ba tàu vận tải vào Đà Nẵng, đồng thời Đội 1 bàn giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Sơn Trà cho Quân khu 5 đến tập kết tại quân cảng Đà Nẵng. 4 giờ ngày 11-4, Đội 1 và bộ phận hỏa lực của Tiểu đoàn 471 xuống tàu vận tải Đoàn 125 hành quân ra đảo.
Góp phần vào thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn
Những con tàu không số vốn từng quen với đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, nhiều lần qua lại khu vực Trường Sa nên đã nhận dạng, phân biệt được các đảo và cũng có kinh nghiệm tránh đá ngầm. Đội 1 Đoàn 126 đặc công là đơn vị có bề dày thành tích với cách đánh bí mật, bất ngờ, đã đánh chìm nhiều tàu địch ở chiến trường Cửa Việt.
Ngày 13-4, Quân khu 5 điện về Bộ Tổng Tham mưu báo cáo kế hoạch đánh chiếm các đảo. Tổng Tư lệnh điện ngay cho quân khu, xác định thời cơ cụ thể: Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay; nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận. Khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm thì đánh chiếm ngay. Hai thời cơ cụ thể trên do anh em theo dõi quyết định. Thời cơ cụ thể thứ ba, Tổng Tư lệnh sẽ kịp thời thông báo khi xuất hiện. Thời cơ đánh chiếm là như vậy, nhưng cách đánh chiếm thì sao, trong tình hình vũ khí, phương tiện của ta còn kém hơn địch cả về số lượng và trình độ hiện đại.
Một nguồn đáng tin cậy báo về: Có triệu trứng quân địch chuẩn bị rút khỏi quần đảo Trường Sa. Sau khi kiểm tra lại nguồn tin, Tổng Tư lệnh điện gấp cho Quân khu 5: Thời cơ đánh các đảo thuộc khu vực Trường Sa lúc này rất thuận lợi. Chỉ đánh các đảo quân ngụy miền Nam chiếm đóng. Các anh ra lệnh đánh chiếm ngay. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên báo cáo về Bộ.
Nhận chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, đồng chí Hoàng Hữu Thái ra lệnh cho các tàu hải quân ngụy trang giả dạng tàu đánh cá áp sát mục tiêu và 4 giờ ngày 13-4, đoàn tập kết cách đảo Song Tử Tây 5 hải lý. Ban chỉ huy cho tàu lùi ra xa thả trôi để bộ đội hồi phục sức khỏe và xác định phương án tác chiến.
Bằng phương tiện nhỏ và ít, đối mặt với tàu chiến của địch và đại dương mênh mông, ta bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ chiếm mục tiêu. 19 giờ ngày 13-4, tàu 673 chở Phân đội 1 tiếp cận đảo, 2 tàu còn lại vòng ra án ngữ phía Bắc và Nam đảo sẵn sàng chi viện. 1 giờ 15 phút ngày 14-4, quân ta dùng xuồng cao su bí mật đổ bộ lên đảo.
Đội hình đổ bộ chia làm 3 mũi: Mũi 1 gồm 4 tổ đặc công trang bị DKZ 82, B40, B41 đánh từ hướng Bắc đảo; mũi 2 gồm 3 tổ đặc công trang bị B40, B41 đánh từ hướng Đông Bắc đảo; mũi 3 gồm 2 tổ đặc công đánh từ hướng Đông Nam đảo. Bằng cách đánh áp sát, táo bạo, bất ngờ, sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ trên đảo lúc 5 giờ ngày 14-4-1975; ta hy sinh 2 đồng chí. Sau trận đánh, Phân đội 1 cử trợ lý tham mưu Đỗ Văn Xuân chỉ huy giữ đảo. Biên đội tàu vận tải đưa lực lượng còn lại và tù binh rút về Đà Nẵng.
Ngày 25-4, ta tiến công đảo Sơn Ca; ngày 27-4, giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn; ngày 28-4, giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất. Ngay trong ngày 28-4, bộ đội ta trên các đảo, trên các tàu nhận được điện khen: “Quân ủy Trung ương rất phấn khởi nhận được tin quân ta đã chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.
Vậy là trong những ngày cuối tháng 4-1975, khi các binh đoàn đang thừa thắng xốc tới trong trận đánh cuối cùng giải phóng Sài Gòn, thì trên Biển Đông, thực hiện chỉ đạo quyết liệt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, quân đội ta đã giải phóng quần đảo Trường Sa, phần đất xa nhất của Tổ quốc, một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đảo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975, với việc giải phóng Trường Sa, quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
(Còn nữa)