Những đóa hoa vùng cao lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc
Giữa mênh mông núi rừng miền Tây Thanh Hóa, có những người phụ nữ lặng lẽ giữ lửa và truyền lửa di sản. Bằng tình yêu thiết tha đối với cội nguồn, họ như những đóa hoa rừng ngát hương, góp phần gìn giữ bản sắc và lan tỏa sắc màu văn hóa độc đáo của các dân tộc Thái, Mông, Dao giữa nhịp sống hiện đại.

Nghệ nhân Phùng Thị Viên (thứ ba từ trái sang) truyền dạy những câu hát Páo Dung cho chị em.
Vùng miền núi Thanh Hóa là nơi lưu giữ kho tàng văn hóa dân gian vô giá của các tộc người Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao, Khơ Mú. Mỗi dân tộc sở hữu một mảnh ghép bản sắc độc đáo: từ nghệ thuật dệt thổ cẩm cầu kỳ của người Thái, kỹ thuật thêu hoa văn tinh xảo của người Mông, đến những giai điệu Páo Dung (Pả Dung) da diết của người Dao.
Tuy nhiên, trước sức ép của kinh tế thị trường và xu hướng giao lưu văn hóa hiện đại, nhiều giá trị truyền thống từng đứng trước nguy cơ mai một. Những khung dệt bám bụi nơi góc bếp, những làn điệu dân ca vắng bóng trong đêm hội, hay những bộ trang phục truyền thống ít xuất hiện hơn trong đời sống thường nhật... từng là niềm trăn trở khôn nguôi của những người yêu văn hóa bản địa.
Chính trong bối cảnh ấy, sức mạnh nội sinh của cộng đồng, đặc biệt là vai trò của những người phụ nữ vùng cao đã trỗi dậy mạnh mẽ. Họ không chỉ là người giữ gìn ngọn lửa ấm trong mỗi căn nhà sàn, mà còn là những hạt nhân đánh thức di sản văn hóa, biến bản sắc thành nguồn lực phát triển cho bản làng.
Hành trình "hồi sinh" nghề dệt thổ cẩm nơi Piềng Pheo
Chúng tôi tìm về bản Huối Luông – một bản Thái cổ nằm bình yên bên dòng sông Mã hiền hòa thuộc xã Hồi Xuân để thăm Tổ dệt thổ cẩm Piềng Pheo. Trong ký ức của những người già nơi đây, đã có một thời khung cửi bám chặt với hiên nhà sàn như cây rừng bám đất. Bé gái Thái mới lên mười đã được bà và mẹ dạy cách cầm thoi, kéo sợi, để sau này tự dệt nên tấm váy cưới rực rỡ trong ngày vu quy. Thế nhưng, khi hàng may sẵn công nghiệp tràn về, nghề dệt cổ truyền dần mai một. Những thanh thoi, sợi chỉ lặng lẽ nằm phủ bụi nơi góc tối.
Khi ánh nắng cuối ngày xiên nhẹ qua sườn núi, chúng tôi gặp bà Hà Thị Tân,Tổ trưởng Tổ dệt thổ cẩm Piềng Pheo ở chân cầu thang ngôi nhà sàn truyền thống. Trên tay người phụ nữ Thái ấy là chồng vải thổ cẩm vừa mới hoàn thành. Đôi bàn tay hằn rõ dấu vết thời gian tỉ mỉ vuốt, gấp từng nếp vải với sự nâng niu, trân trọng như giữ gìn một vật báu.
Bà Tân không nhớ chính xác mình bắt đầu gắn bó với chiếc khung cửi từ năm mấy tuổi, chỉ biết tiếng “lách cách” nhịp nhàng ấy đã theo bà lớn lên qua những mùa lúa chín, theo bà về nhà chồng cho đến khi trở thành người mẹ, người bà hôm nay. Chính vì tình yêu sâu nặng ấy, khi Tổ dệt thổ cẩm Piềng Pheo được thành lập vào cuối năm 2025, bà Tân là một trong những người đầu tiên hăng hái nhận lời tham gia.

Bà Hà Thị Tân - Tổ trưởng Tổ dệt Piềng Pheo (mặc áo xanh) hướng dẫn chị em kỹ thuật phối màu và dệt hoa văn thổ cẩm Thái.
Bà Tân xúc động chia sẻ: “Được xã quan tâm cho thành lập Tổ dệt thổ cẩm Piềng Pheo với 8 thành viên, chị em chúng tôi mừng lắm. Chị em đang nỗ lực hết mình để làm ra những sản phẩm mịn đẹp, từ khăn piêu, váy áo đến túi xách du lịch để quảng bá tới du khách thập phương, giúp ngày càng nhiều người biết đến và yêu mến bản sắc văn hóa độc đáo của người Thái nơi đây”.
Nhờ ngọn lửa nhiệt huyết của bà Tân và các chị em trong tổ, những khung dệt cũ ở Piềng Pheo lại rộn rã tiếng thoi đưa mỗi trưa, mỗi tối, mang lại sức sống mới cho bản Thái cổ bên dòng sông Mã.
Nữ đảng viên thắp sáng niềm tự hào bản Mông Ché Lầu
Rời vạt nắng sông Mã, chúng tôi ngược ngàn lên xã biên giới Na Mèo. Trên đỉnh núi Ché Lầu, quanh năm mây mù bao phủ, hình ảnh chị Hơ Thị Dua – người con gái Mông kiên cường đã trở thành điểm tựa đặc biệt của bà con. Chị chính là nữ đảng viên đầu tiên và duy nhất của bản Mông Ché Lầu - người đã tiên phong mở lối, đưa ánh sáng của Đảng và tinh thần tự hào dân tộc về với đỉnh trời biên viễn.
Sau hơn 10 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, chị Dua luôn trăn trở khi thấy thế hệ trẻ trong bản dần xa rời trang phục truyền thống. Chị tâm niệm: “Người Mông mình nếu không còn biết thêu hoa văn, không còn mặc bộ váy xòe của dân tộc mình thì coi như đã đánh mất đi cái gốc, cái hồn của bản làng”.
Nói đi đôi với làm, chị kiên trì “gõ từng cửa, vận động từng người” cùng khôi phục lại nghề thêu đính và kỹ thuật vẽ hoa văn truyền thống. Không dừng lại ở đó, việc khôi phục nghề cổ, chị Dua còn thành lập Đội văn nghệ quần chúng bản Ché Lầu, sưu tầm những bài dân ca cổ của người Mông và nhờ các cao niên trong bản dạy lại cách thổi khèn, múa khèn cho các em thiếu nhi vào các ngày cuối tuần.
Bên ánh lửa hồng trong ngôi nhà gỗ của mình, chị Dua bộc bạch: “Mới đầu vận động chị em cũng khó lắm. Nhưng khi thấy bộ trang phục Mông do chính tay mình làm ra được du khách khen ngợi, chị em ai cũng phấn khởi”.
Người giữ “hồn” bản qua làn điệu Páo Dung
Tạm biệt vùng biên viễn, chúng tôi xuôi về thôn Thanh Sơn (xã Cẩm Vân). Giữa không gian thanh bình của bản làng người Dao Quần Chẹt, tiếng hát Páo Dung ngân nga, mượt mà của bà Phùng Thị Viên như níu chân người phương xa.

Chị Hơ Thị Dua (mặc áo xanh, bên phải) hướng dẫn các thiếu nữ dân tộc Mông thêu hoa văn trên váy.
Ở tuổi ngoài 60, bà Viên được ví như “cuốn từ điển sống” về kho tàng văn hóa dân gian của người Dao nơi đây. Páo Dung không chỉ là giai điệu dân ca, mà là tiếng lòng, là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn liền với lễ cấp sắc, cưới hỏi, mừng nhà mới và những lời dặn dò đạo lý làm người.
Lo những lời ca cổ bị thất truyền khi thế hệ cao niên dần khuất bóng, từ năm 2020 đến nay, bà mở lớp dạy dân ca miễn phí ngay tại gian nhà gỗ nhỏ của mình cho chị em và trẻ em trong thôn vào các chiều thứ bảy, chủ nhật. Trong mỗi buổi học, bà Viên ân cần uốn nắn từng hơi thở, giảng giải ý nghĩa sâu xa của từng câu hát cổ cho các “học trò”.
Đôi mắt lấp lánh niềm vui, bà Viên tâm sự: “Dù bận rộn công việc đồng ruộng, nhưng thấy các chị em trong thôn và các cháu nhỏ hào hứng đến học hát, tôi mừng lắm. Còn giữ được tiếng hát Páo Dung là còn giữ được cái gốc, cái hồn của người Dao Quần Chẹt”.
Đi qua những thung lũng mờ sương miền Tây Thanh Hóa, điều đọng lại sâu sắc nhất trong chúng tôi không chỉ là vẻ đẹp của núi rừng hùng vĩ, mà là sức sống bền bỉ của một niềm tin hướng về cội nguồn. Bằng tình yêu thiết tha và lòng tự tôn dân tộc, những người phụ nữ miền núi đã âm thầm chứng minh: Ngọn lửa di sản muốn cháy mãi qua thời gian phải được nhóm lên từ chính góc bếp, hiên nhà nơi bản làng. Họ là những đóa hoa vùng cao đích thực chẳng cần danh xưng mỹ miều, cứ lặng lẽ tỏa hương bằng sự tận tụy và kiên cường. Sự dấn thân bền bỉ ấy không chỉ giữ lấy cái gốc của mỗi dân tộc người, mà còn lan tỏa những sắc màu văn hóa rạng rỡ giữa đại ngàn. Để rồi giữa dòng chảy hội nhập hối hả, vùng cao Thanh Hóa vẫn vẹn nguyên một khoảng trời bản sắc - sâu lắng, độc đáo và trường tồn cùng thời gian.
