Những dòng sông mở đất

Trong hành trình 555 năm danh xưng Quảng Nam, có những dòng sông chảy miệt mài trong lòng xứ Quảng, góp phần vào công cuộc mở đất, dung dưỡng bao thế hệ ở dải đất miền Trung.

Đoạn sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An được gọi là sông Hoài. Ảnh: XUÂN SƠN

Đoạn sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An được gọi là sông Hoài. Ảnh: XUÂN SƠN

Dòng sông Mẹ của xứ Quảng

Mỗi lần ngược dòng về thượng nguồn sông Thu, trong hành trang của chúng tôi luôn có đôi câu ca dao xứ Quảng: “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên” hay “Ngó lên Hòn Kẽm - Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi ”.

Hòn Kẽm - Đá Dừng là một điểm đến trong dòng chảy của con nước Thu Bồn sau khi khởi nguồn từ đỉnh Ngọc Linh, còn câu chuyện mít non - cá chuồn được người Quảng ví như “mối giao duyên” giữa miền xuôi và miền ngược, cũng là ví dụ cụ thể cho hành trình giao thương hàng hóa trên dòng sông Mẹ của xứ Quảng.

Dòng sông Mẹ có lưu vực rộng 10.350km2², là một trong những sông nội địa có lưu vực lớn nhất Việt Nam; uốn lượn qua những cánh rừng, ghềnh đá, đồi núi..., chảy qua phố cổ Hội An rồi đổ ra biển Cửa Đại; một nhánh rẽ thành sông Vĩnh Điện chảy ra Bắc, đổ vào sông Cẩm Lệ hợp thành sông Hàn trước khi ra biển. Trên hành trình đó, dòng sông góp phần hình thành những xóm vạn đò, những làng quê ven sông đậm bản sắc xứ Quảng.

TS Lê Thị Mai (khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng) đề cập đến loại hình “làng ven sông” ở hạ lưu sông Thu Bồn. Ở đó, dòng sông mang lại điều kiện thuận lợi phát triển nghề nông - tang làm chủ đạo (trồng lúa, dâu tằm, bắp, mía, rau đậu…, chăn thả bò, trâu), bên cạnh các nghề thủ công, đánh bắt thủy sản - vừa là sinh kế, vừa tạo nguồn thổ sản là các mặt hàng trao đổi thiết yếu.

Hoạt động buôn bán của làng ven sông phát triển mạnh, với cảnh “trên bến dưới thuyền” nhộn nhịp ở các bến sông, cảnh ghe thuyền xuôi ngược “lên nguồn xuống biển”, góp phần vào sự thịnh đạt của thương cảng Hội An.

Chính các làng xã ven sông này đã sản sinh một “tâm thế mở”, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa với bên ngoài mạnh mẽ ở đất Quảng trong lịch sử. Làng xã ven sông nằm trong không gian văn hóa sông Thu Bồn mang đậm dấu ấn về sự cộng cư đa dạng (Chăm - Việt - Hoa…) cùng đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Dòng sông như mạch sống hiền hòa, nuôi dưỡng những giá trị nhân văn lắng đọng ở đôi bờ, và làng ven sông chính là linh hồn.

Lộ Cảnh Giang - từ Cửa Đại đến Cửa Hàn

“Gió thổi hiu hiu, nước xanh lạnh lẽo; rừng tre thâm thẩm, bãi cát sáng ngời; đã vui mừng gió thuận buồm xuôi, lại hớn hở gần ngày về nước. Tấc lòng khoan khoái, biết lấy chi cân… Bỗng chốc đã thấy núi Tam Thai trước mắt…”.

Đó là ghi chép trong nhật ký của Thiền sư Trung Hoa Thích Đại Sán vào năm 1695 về sông Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang), trên hành trình rời Phú Xuân (Huế) về Hội An để đáp thuyền về nước, sau khi được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang xứ Đàng Trong để thuyết giảng đạo Phật. Núi Tam Thai tức là Ngũ Hành Sơn - Non Nước, thuộc phường Ngũ Hành Sơn ngày nay.

Sông Cổ Cò có chiều dài hơn 27,5km nối từ Cửa Đại (Hội An) đến cửa Hàn (Đà Nẵng).

Trong lịch sử ngoại thương của xứ Đàng Trong trước đây, khi Hội An là thương cảng sầm uất vào các thế kỷ XVI - XVIII, sông Cổ Cò trở thành tuyến đường thủy quan trọng của xứ Đàng Trong, kết nối giao thương giữa phương Tây, Trung Hoa và Nhật Bản. Đến đầu thế kỷ XIX thời Minh Mạng, sông Cổ Cò cũng được sử dụng để lưu thông. Đến cuối đời vua Tự Đức (1848 - 1883) việc giao thương giữa Đà Nẵng và Hội An vẫn được tiến hành qua con sông này.

Cho đến ngày Pháp lấy Đà Nẵng làm thuộc địa (1888), con đường vận chuyển thuận tiện nhất giữa Đà Nẵng và Hội An vẫn là sông Cổ Cò. Tuy nhiên, tình trạng bồi lấp của sông từ cuối thế kỷ XIX đã làm cho con sông này còn một đoạn ngắn. Qua nhiều năm tháng, hình ảnh tuyến đường thủy nhộn nhịp của xứ Quảng năm xưa giờ chỉ còn trong những ghi chép của lịch sử. Dẫu vậy, tiềm năng của dòng sông đến nay vẫn còn rất lớn.

Những năm gần đây, chủ trương khơi thông sông Cổ Cò hay phát triển kinh tế - du lịch mạnh mẽ trên tuyến sông Thu Bồn được chính quyền Quảng Nam và Đà Nẵng, nay là thành phố Đà Nẵng đặc biệt lưu tâm, với kỳ vọng khơi dậy những dư địa rộng mở sau sáp nhập.

Những ngày cuối tháng 7/2026, phía Cổ Cò đang rộn ràng chuẩn bị cho Lễ hội sông Cổ Cò - Hội An Tây 2026 với chủ đề trải nghiệm “Dòng chảy di sản” bên dòng sông lịch sử. Còn dọc hạ lưu sông Thu, những lễ hội, hoạt động du lịch đang rộn ràng từ đầu năm. Ông Đặng Hòa, Chi hội phó Chi hội Vận chuyển du lịch đường thủy Đà Nẵng - người đầu tiên lái thuyền du lịch trên sông Hàn nhìn nhận, thành phố sẽ cần một tuyến du lịch đường thủy kéo dài từ sông Hàn về nơi tiếp giáp của ba con sông Vĩnh Điện, Cổ Cò và Cẩm Lệ để đánh thức tiềm năng phần nào đang bị bỏ ngỏ.

Những dòng sông xứ Quảng, không chỉ mở cõi, mà còn chở theo hồn cốt của một vùng đất đã được định danh trong 555 năm.

LÂM VIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nhung-dong-song-mo-dat-3346881.html