Những hồ nước 'trên trời' ở Cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa trùng điệp đá tai mèo, những hồ treo nằm ở độ cao hàng nghìn mét so với mực nước biển như những mảng xanh hiếm hoi trên Cao nguyên đá Đồng Văn.

Không chỉ tạo nên cảnh sắc đặc biệt, đây còn là những “kho nước” quý giá giúp người dân chống chọi với mùa khô khắc nghiệt.

Cao nguyên đá Đồng Văn, còn gọi là Sơn nguyên Đồng Văn, trải rộng trên địa bàn 4 huyện cũ là Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang trước đây, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang. Với diện tích khoảng 2.356,8km², độ cao trung bình từ 1.000 - 1.600m so với mực nước biển, nơi đây phần lớn là núi đá vôi, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh. Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô, lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình khoảng 1.198 - 1.235mm/năm, nhưng nước khó lưu giữ trên nền đá vôi, khiến nhiều khu vực thường xuyên thiếu nước vào mùa khô.

Cao nguyên đá Đồng Văn, còn gọi là Sơn nguyên Đồng Văn, trải rộng trên địa bàn 4 huyện cũ là Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang trước đây, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang. Với diện tích khoảng 2.356,8km², độ cao trung bình từ 1.000 - 1.600m so với mực nước biển, nơi đây phần lớn là núi đá vôi, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh. Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô, lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình khoảng 1.198 - 1.235mm/năm, nhưng nước khó lưu giữ trên nền đá vôi, khiến nhiều khu vực thường xuyên thiếu nước vào mùa khô.

Khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn có hơn 250 nghìn người thuộc 17 dân tộc cùng sinh sống. Người Mông chiếm đông nhất, bên cạnh các dân tộc Dao, Giáy, Nùng, Tày, Bố Y, Lô Lô... Mật độ dân số bình quân khoảng 75 người/km².

Khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn có hơn 250 nghìn người thuộc 17 dân tộc cùng sinh sống. Người Mông chiếm đông nhất, bên cạnh các dân tộc Dao, Giáy, Nùng, Tày, Bố Y, Lô Lô... Mật độ dân số bình quân khoảng 75 người/km².

Trong điều kiện nguồn nước khan hiếm, những hồ treo được xây dựng tại các khu vực có khả năng tích nước trở thành nguồn dự trữ quan trọng. Vào mùa mưa, hồ giữ lại nước để sử dụng trong những tháng khô hạn, phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất.

Trong điều kiện nguồn nước khan hiếm, những hồ treo được xây dựng tại các khu vực có khả năng tích nước trở thành nguồn dự trữ quan trọng. Vào mùa mưa, hồ giữ lại nước để sử dụng trong những tháng khô hạn, phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất.

Mô hình hồ treo đầu tiên được triển khai năm 2002 tại xã Sà Phìn. Từ công trình ban đầu, hệ thống hồ treo từng bước được mở rộng trên Cao nguyên đá. Đến nay, khu vực có 121 hồ, bổ sung nguồn nước dự trữ cho nhiều khu dân cư.

Mô hình hồ treo đầu tiên được triển khai năm 2002 tại xã Sà Phìn. Từ công trình ban đầu, hệ thống hồ treo từng bước được mở rộng trên Cao nguyên đá. Đến nay, khu vực có 121 hồ, bổ sung nguồn nước dự trữ cho nhiều khu dân cư.

Các hồ treo trên Cao nguyên đá thường có dung tích từ 2.500 - 5.000m³, có thể cấp nước cho khoảng 150 - 300 hộ dân. Để giữ nước trên nền đá vôi, tường và đáy hồ chủ yếu được xây bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép. Nguồn nước được thu từ các mó nước nhỏ hoặc hệ thống thềm thu nước, sau đó dẫn về hồ bằng đường ống.

Các hồ treo trên Cao nguyên đá thường có dung tích từ 2.500 - 5.000m³, có thể cấp nước cho khoảng 150 - 300 hộ dân. Để giữ nước trên nền đá vôi, tường và đáy hồ chủ yếu được xây bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép. Nguồn nước được thu từ các mó nước nhỏ hoặc hệ thống thềm thu nước, sau đó dẫn về hồ bằng đường ống.

Giữa những triền núi đá khô khát, hồ treo ở thôn Lũng Pù, xã Khâu Vai hiện lên như một “kho nước” giữa lưng chừng núi. Hồ có diện tích khoảng 7.000m², dung tích hơn 9.400m³, đã được đưa vào sử dụng hơn 10 năm, cung cấp nước sinh hoạt cho hàng trăm người dân cùng cán bộ, giáo viên và học sinh trên địa bàn.

Giữa những triền núi đá khô khát, hồ treo ở thôn Lũng Pù, xã Khâu Vai hiện lên như một “kho nước” giữa lưng chừng núi. Hồ có diện tích khoảng 7.000m², dung tích hơn 9.400m³, đã được đưa vào sử dụng hơn 10 năm, cung cấp nước sinh hoạt cho hàng trăm người dân cùng cán bộ, giáo viên và học sinh trên địa bàn.

Hồ treo tại Tổ 1, xã Mèo Vạc được khánh thành tháng 12/2022, có dung tích 7.000m³, sử dụng nguồn nước từ Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán.

Hồ treo tại Tổ 1, xã Mèo Vạc được khánh thành tháng 12/2022, có dung tích 7.000m³, sử dụng nguồn nước từ Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán.

Ông Thào Minh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có hơn 21.000 nhân khẩu, trong đó khoảng 1.000 hộ tại các thôn vùng cao, khu vực núi đá vẫn chưa tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt ổn định. Địa phương đề xuất xây dựng thêm các hồ treo dung tích từ 2.000 - 3.000m³, kết hợp hệ thống thu nước mưa để tăng khả năng tích trữ trong mùa khô.

Ông Thào Minh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có hơn 21.000 nhân khẩu, trong đó khoảng 1.000 hộ tại các thôn vùng cao, khu vực núi đá vẫn chưa tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt ổn định. Địa phương đề xuất xây dựng thêm các hồ treo dung tích từ 2.000 - 3.000m³, kết hợp hệ thống thu nước mưa để tăng khả năng tích trữ trong mùa khô.

Tại xã Đồng Văn, ông Lê Trung Quyết - Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có 37 công trình cấp nước, trong đó 12 hồ chứa. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng ngày càng lớn khi dân cư tăng và du lịch phát triển. Mỗi năm, địa phương đón hơn 2 triệu lượt khách, với khoảng 150 cơ sở lưu trú. Để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài, xã Đồng Văn kiến nghị nghiên cứu đầu tư thêm các hồ chứa tại các thôn, vừa phục vụ sinh hoạt, sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Ảnh: Hồ chứa nước Trung tâm xã Đồng Văn.

Tại xã Đồng Văn, ông Lê Trung Quyết - Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có 37 công trình cấp nước, trong đó 12 hồ chứa. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng ngày càng lớn khi dân cư tăng và du lịch phát triển. Mỗi năm, địa phương đón hơn 2 triệu lượt khách, với khoảng 150 cơ sở lưu trú. Để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài, xã Đồng Văn kiến nghị nghiên cứu đầu tư thêm các hồ chứa tại các thôn, vừa phục vụ sinh hoạt, sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Ảnh: Hồ chứa nước Trung tâm xã Đồng Văn.

Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 36.978 hộ và đầu tư 61 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tuy nhiên, qua rà soát vẫn còn hơn 13.059 hộ tại 16 xã gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt. Thực tế cho thấy, có công trình chưa đồng nghĩa với việc nguồn nước được bảo đảm quanh năm. Trong đợt hạn tháng 6/2023, tại 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang trước khi sáp nhập, 57/121 hồ treo không còn nước; 36 hồ có mực nước dưới 30cm và 28 hồ có mực nước trên 30cm. Ảnh: Hồ treo tại xã Cán Tỷ.

Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 36.978 hộ và đầu tư 61 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tuy nhiên, qua rà soát vẫn còn hơn 13.059 hộ tại 16 xã gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt. Thực tế cho thấy, có công trình chưa đồng nghĩa với việc nguồn nước được bảo đảm quanh năm. Trong đợt hạn tháng 6/2023, tại 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang trước khi sáp nhập, 57/121 hồ treo không còn nước; 36 hồ có mực nước dưới 30cm và 28 hồ có mực nước trên 30cm. Ảnh: Hồ treo tại xã Cán Tỷ.

Sông Nho Quế là nguồn nước tự nhiên lớn giữa miền đá, nhưng nằm sâu dưới những vách núi dựng đứng. Trong khi dòng sông cung cấp nước cho các khu vực thấp, nhiều khu dân cư trên cao nguyên vẫn phải dựa vào hệ thống hồ treo để tích trữ nước phục vụ sinh hoạt.

Sông Nho Quế là nguồn nước tự nhiên lớn giữa miền đá, nhưng nằm sâu dưới những vách núi dựng đứng. Trong khi dòng sông cung cấp nước cho các khu vực thấp, nhiều khu dân cư trên cao nguyên vẫn phải dựa vào hệ thống hồ treo để tích trữ nước phục vụ sinh hoạt.

Để giải quyết tình trạng thiếu nước vào mùa khô, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Văn Dưng cho rằng, bên cạnh đầu tư mới, cần đánh giá lại hiệu quả quản lý, vận hành các công trình nước sinh hoạt hiện có, đồng thời cập nhật nhu cầu thực tế của từng địa bàn để lựa chọn phương án cấp nước, tích trữ nước phù hợp..

Theo ông Dưng, phương án cấp nước cần tính đến đặc điểm dân cư phân tán, tốc độ gia tăng dân số và nhu cầu phát triển du lịch. Riêng khu vực Cao nguyên đá, tỉnh kiến nghị huy động cơ quan quản lý, chuyên gia thủy lợi, đơn vị khoa học và Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn cùng đánh giá địa chất, nguồn nước để lựa chọn giải pháp bảo đảm nguồn nước lâu dài.

Vũ Mừng

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/nhung-ho-nuoc-tren-troi-o-cao-nguyen-da-dong-van-2559562.html