Tạo “luồng sinh khí” mới cho nghề
“Thời thế, thế thời. Giờ hàng nhựa “lên ngôi”, mấy ai còn dùng sản phẩm đan lát?”. Chính người làm nghề cũng đã nhận ra điều này. Vì vậy, mà nghề đan lát truyền thống của đồng bào dân tộc miền núi đang dần mai một...
Giữ lại “nhịp nan” (Bài 3):

Các sản phẩm mây tre đan thôn Thượng Tiến chuẩn bị xuất xưởng.
Thưa dần những đôi tay đan
Hầu hết những người theo nghề đan lát là người cao tuổi. Tuy nhiên, số này cũng không nhiều. Như ở xã Đồng Lương, có thôn chỉ còn khoảng 15 - 20 cụ gắn bó với nghề. Hay ngay tại xã Cẩm Thạch, dẫu có tới 1.600 hộ tham gia đan cót, phần lớn lực lượng “giữ lửa” vẫn là các bậc cao niên.
Tại thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng trước đây (nay là xã Thường Xuân), từng nổi tiếng khắp vùng với các sản phẩm đan lát thủ công phục vụ đắc lực cho mùa màng và đời sống sinh hoạt, nay cũng chỉ còn khoảng 10 cụ gắn bó với nghề. Theo chia sẻ của ông Nguyễn Thế Huy, Bí thư chi bộ thôn Xuân Lập, các cụ thỉnh thoảng vẫn làm khi có khách đặt hàng, nhưng số lượng chẳng đáng là bao.
Còn tại thôn Sòng, xã Kiên Thọ, lúc nhàn rỗi, hai vợ chồng bà Phạm Thị Bao lại cùng ngồi đan dón ngay tại nhà sàn của gia đình. Gần ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng tinh thần nghề vẫn phơi phới. Bà Bao hồ hởi: “Lúc rỗi lại đan. Đan dón, đan mâm cơm... Ai mua thì đến nhà hoặc đặt hàng qua điện thoại. Tuổi già, càng làm càng vui. “Nghề cổ” mà, càng giữ được càng quý”.
Thế nhưng, công việc đan dón của vợ chồng bà Bao lại được xem là hình ảnh hiếm hoi của thôn, của xã. Bởi, cách đây vài năm vẫn còn một số cụ cùng tham gia, nay do tuổi cao sức yếu nên đều đã gác lại đôi tay đan.
Nghề đan lát truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi đang dần mai một. Đấy là thực tế. Tuy nhiên, điều này cũng dễ hiểu, như nhìn nhận thẳng thắn của ông Nguyễn Thế Huy, Bí thư chi bộ thôn Xuân Lập, xã Thường Xuân: “Có nhiều yếu tố tác động. Sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ, người sử dụng ít đi vì phần lớn chuộng đồ nhựa. Hơn nữa, lực lượng trong độ tuổi lao động và người trẻ thì đi làm công ty. Cần mẫn đan lát chỉ còn các cụ già, việc tìm người nối nghề quả thực rất khó khăn...”.
Khoác "áo mới" cho sợi nan
Trước thực trạng ấy, thay vì buông xuôi, một số địa phương đã tìm giải pháp để người dân tiếp tục giữ lại “nhịp nan”, giữ lại một phần ký ức đẹp về nghề. Đơn cử như tại xã Điền Thượng cũ (nay là xã Điền Quang), cách đây 5 năm đã thành lập Tổ hợp tác sản xuất mây tre đan thôn Thượng Tiến với các sản phẩm như hộp đựng, giỏ đựng và các mẫu hàng trang trí xuất khẩu, hiện duy trì hiệu quả gần 100 thành viên.
Xuất phát từ thực tế khi nghề đan lát truyền thống với thị trường đầu ra bấp bênh, ngoài thời gian nông nhàn bà con không có việc làm thêm, cuối năm 2021, chị Hà Thị Kiều và Phạm Thị Chiến, những công dân của xã Điền Thượng lúc bấy giờ đã mạnh dạn đi tham quan, học tập kinh nghiệm tại một số doanh nghiệp và làng nghề trong, ngoài tỉnh. Sau đó, các chị liên kết với Công ty TNHH Quốc Đại (chi nhánh tại Thanh Hóa) để sản xuất và bao tiêu sản phẩm.

Sản phẩm mới đã tạo thu nhập ổn định cho các thành viên trong Tổ hợp tác sản xuất mây tre đan thôn Thượng Tiến.
Đến nay, 70% doanh thu của tổ hợp tác đến từ việc gia công xuất khẩu đi các thị trường trong hệ thống IKEA, 30% còn lại sản xuất theo đơn đặt hàng riêng. Chị Hà Thị Kiều, Tổ phó Tổ hợp tác sản xuất mây tre đan thôn Thượng Tiến, cho biết: “Trung bình, nếu làm thường xuyên, người lao động có thu nhập từ 5.000.000 đến 6.000.000 đồng/người/tháng. Những ai tranh thủ lúc rảnh rỗi mang nguyên liệu về nhà làm thì bình quân đạt từ 1.500.000 đến 3.500.000 đồng/người/tháng”.
Cụ Hà Văn Chương (75 tuổi, thôn Thượng Tiến) - người gắn trọn đời với sợi mây, sợi giang của địa phương, bồi hồi: “Giờ thấy sản phẩm của làng được “khoác” tấm áo mới để xuất ngoại, bà con rất mừng. Đứa cháu tôi nay cũng bắt đầu cầm nan theo mẫu mới. Vậy là nghề không mất đi, chỉ là nó đang sống một cuộc đời khác thôi”.
Khẳng định về hướng đi này, ông Trịnh Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Điền Quang nhấn mạnh: Sự chuyển dịch này không phải làm lại từ con số không, mà là sự kế thừa trực tiếp từ đôi bàn tay khéo léo của bao đời. Kỹ năng vót nan, uốn mây, sự tỉ mỉ và nhịp tay dẻo dai của bà con chính là nền tảng cốt lõi không thể thay thế. Ông nói: “Giữa cái cũ và cái mới luôn có “sợi dây” liên hệ mật thiết. Người có tay nghề truyền thống tiếp cận sản phẩm hiện đại rất nhanh, chỉ cần hướng dẫn qua là làm được ngay. Từ thành công này, thời gian tới, xã định hướng nhân rộng mô hình, thu hút đông đảo lao động tham gia để tạo động lực mạnh mẽ giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân”.
Nghề đan lát truyền thống tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi thời gian qua đang phải đối mặt với nguy cơ mai một trước áp lực thời cuộc. Tuy nhiên, thay vì buông xuôi, một số địa phương đã tìm ra lối đi mới khi khéo léo kết hợp kỹ năng cũ để tạo ra các sản phẩm hiện đại, tinh xảo hơn theo nhu cầu thị trường.
Việc “thổi luồng sinh khí” mới này không làm mất đi giá trị gốc, mà chính là cách tiếp nối và duy trì mạch nguồn của nghề. Giữ lại “nhịp nan” hôm nay không chỉ đơn thuần là giữ lại những vật dụng xưa, mà còn là giữ trọn hồn cốt, bản sắc và tạo sinh kế bền vững cho người dân bản địa.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/tao-luong-sinh-khi-moi-cho-nghe-45444.htm
