Những “lão ngư” cuối cùng trên sông

Giữa lòng vùng đất cội nguồn linh thiêng, nơi ngã ba sông huyền thoại hội tụ và ba mạch nước sông Hồng, sông Lô, sông Đà cuộn chảy muôn đời, những phận vạn chài đã gửi trọn cuộc đời bập bềnh theo từng con sóng.

Khi dòng chảy thiên nhiên đổi dời và thời gian phôi pha, những “lão ngư” cuối cùng vẫn lặng lẽ bám trụ, mang theo cả một bầu ký ức chìm nổi về những mùa nước, những mẻ cá, những tháng ngày lênh đênh và niềm trăn trở khôn nguôi trước những dòng sông đang dần mất đi sản vật từng làm nên nét riêng của mỗi vùng sông nước...

Cả đời “ăn cơm nước, ngủ bồng bềnh”

Miền Đất Tổ Hùng Vương đâu chỉ có đền đài trầm mặc trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, đâu chỉ có cội nguồn thiêng liêng rưng rưng mỗi độ tháng Ba về. Nơi đây còn được bồi đắp qua bao đời bởi một ngã ba sông, nơi sông Hồng cuộn đỏ phù sa gặp sông Lô trong xanh uốn lượn và sông Đà dữ dội, hùng vĩ chảy qua những ghềnh thác.

Trên những ngả sông ấy, có những con người đã lấy tròng trành sóng nước làm nhà, lấy bập bềnh con nước làm sinh kế. Cả cuộc đời bấp bênh mưu sinh cùng con nước đã khiến họ trở thành những “mảnh ghép” không thể tách rời của đời sống sông nước, góp phần lưu giữ một phần hồn cốt văn hóa của vùng đất cội nguồn.

Buổi chiều mưa giăng mắc trên phố Đoàn Kết, phường Việt Trì, bên chén trà mạn ấm sực và cái se lạnh của gió sông lùa qua khung cửa, ông Phan Tiến Lập ngồi ôn lại những năm tháng “dọc ngang sông nước” thời trẻ. Dù đã hơn 70 tuổi, cái dáng dấp của một ngư phủ gốc Bạch Hạc, người cả đời gắn bó với dòng Lô, vẫn hiện rõ trong ánh mắt và từng cử chỉ của ông. Ông kể: Dân Bạch Hạc thuở trước sống bằng nghề chài lưới nhiều vô kể. Từ thời các cụ, các ông đến bố và các chú bác đều lấy khúc sông này làm nơi mưu sin. Vì thế, từng con nước, ghềnh thác, hang hốc nơi ngã ba sông đều in vào tâm trí ông như lòng bàn tay. Biết bơi từ thuở nhỏ, được truyền cái nghề “ăn cơm nước, ngủ bồng bềnh”, dẫu có thời điểm thanh niên đã thoát ly làm công nhân Nhà máy đường Việt Trì, ông Lập vẫn canh cánh bám nghề, sớm hôm thả lưới, quăng chài nơi ngã ba sông.

Ông Phan Tiến Lập, lão ngư nơi ngã ba sông đang vẽ lại hình dáng cá Anh Vũ từng bắt được nhiều lần trong đời làm nghề sông nước.

Ông Phan Tiến Lập, lão ngư nơi ngã ba sông đang vẽ lại hình dáng cá Anh Vũ từng bắt được nhiều lần trong đời làm nghề sông nước.

Nhắc đến cá Anh Vũ - loài linh vật quý hiếm chỉ vùng ngã ba Hạc mới có, đôi mắt ông Lập bỗng bừng sáng rồi chùng xuống đầy tiếc nuối. Anh Vũ là giống cá khôn lanh, chuyên chọn những hang hốc đá ngầm nước lạnh và sạch ở ngã ba sông để trú ngụ, ăn rêu đá nên sở hữu chiếc mồm và đôi môi đặc biệt. Theo lời ông Lập, từ tháng 11 âm lịch đến tháng 3 âm lịch năm sau, cứ hễ nước lên là cá Anh Vũ lại biến mất khó hiểu.

“Cá Anh Vũ đẹp như tranh vẽ”, ông Lập bồi hồi nhớ lại. Thả vào chậu nước, các vây cá xòe ra óng ánh nhiều màu sắc. Vây lưng và hai vây bên giương lên như cánh buồm trong tranh Đông Hồ. Dọc hai bên thân là một đường vân pha ba màu xanh, trắng, hồng kéo dài từ mang đến tận đuôi. Thời trai trẻ, ông từng bắt được hàng chục con bằng chài tay và cụp. Đáng nhớ nhất là năm 1986, ông đã tóm gọn một con nặng gần 2kg. Người ta từng đến tận nhà đặt giá 17 triệu đồng/kg để làm quà biếu.

Thế nhưng, những mùa cá dồi dào ấy rồi cũng dần trở thành ký ức, lần cuối cùng ông Lập bắt được một con cá Anh Vũ tầm hai lạng là vào năm 1990. Từ đó đến nay, tuyệt nhiên không một ai trên ngã ba sông còn chạm mặt loài cá quý hiếm ấy nữa. Nguyên nhân sâu xa chẳng phải đâu xa: Những trận đánh mìn phá đá, nạn khai thác cát sỏi vô độ đã san bằng những hang hốc sâu thẳm. Đoạn sông từng sâu 20-30m nay chỉ còn khoảng 5- 6m; nước đục ngầu, mất đi độ lạnh và sự tinh khiết vốn có, rêu đá tuyệt diệt khiến cá bỏ đi hoặc không thể sinh sôi.

Ngước mắt nhìn ra ngã ba sông nơi những đoàn tàu chở cát đang hối hả ngược xuôi, lão ngư già nơi ngã ba sông chỉ biết thở dài: “Tôi ước mong một lần nữa trong đời được nhìn thấy cá Anh Vũ nơi ngã ba sông này, nhưng chắc chẳng thể kịp nữa rồi”.

Những “lão ngư” giữ hồn sông

Rời ngã ba sông, ngược dòng Lô giang lên đất Đoan Hùng, chúng tôi tìm về làng Vân Tập, nơi có những con người nửa đời người bập bềnh theo con nước. Ở tuổi 65, ông Nguyễn Văn Niệm vẫn giữ vóc dáng rắn rỏi của người được sinh ra và lớn lên giữa mênh mông sóng nước. Nhà ông có chín anh em thì năm người cất tiếng khóc chào đời trên chiếc thuyền cá tròng trành. Bản thân ông Niệm mãi đến năm 29 tuổi mới chính thức đặt chân lên bờ, coi như trọn vẹn 28 năm tuổi trẻ gắn liền với dòng sông này. Cuộc sống của cư dân vạn chài thuở ấy gói gọn trong những chiếc bè rộng chừng mười mét vuông - vừa là nơi ăn, chốn ngủ, vừa là không gian sinh hoạt của một đại gia đình mười mấy con người chen chúc. Những sự kiện trọng đại như đám cưới cũng diễn ra đậm chất du mục sông nước: rạp dựng trên bãi bồi, bắc cầu phao từ bè sang để lối xóm sang ăn mừng, chúc phúc.

Nhớ nghề, dù tuổi cao nhưng ông Niệm vẫn thi thoảng ra sông kiếm cá, vừa kiếm thêm thu nhập, vừa đỡ nhớ những ngày sông nước thời trai trẻ.

Nhớ nghề, dù tuổi cao nhưng ông Niệm vẫn thi thoảng ra sông kiếm cá, vừa kiếm thêm thu nhập, vừa đỡ nhớ những ngày sông nước thời trai trẻ.

Nỗi ám ảnh lớn nhất của dân vạn chài chính là những mùa lũ dữ. Ông Niệm không bao giờ quên trận lốc xoáy giữa đêm khuya khiến dây neo đứt, thuyền bị đánh chìm. Giữa bốn bề nước đen ngòm, ông phải bám chặt vào dây neo, chờ trời sáng mới tát nước, rồi bơi vào bờ. Cứ mỗi độ nước lớn, cả làng chài lại hò nhau kéo thuyền trốn chạy sang tận sông Chảy lánh nạn, gian nan nhất là việc giữ bè. Mỗi năm, họ phải mua hàng chục cây tre, đan chéo để gia cố bè, chống chọi với dòng nước xiết.

Bước ngoặt đến vào những năm 1980 - 1981 khi Nhà nước tạo điều kiện cấp đất, vận động bà con lên bờ ổn định sinh kế. Mười bốn hộ dân đầu tiên với khoảng một trăm nhân khẩu rời dòng nước để dựng nhà lập nghiệp, nhưng hành trình ấy đầy rẫy nước mắt khi nhà dựng lên trên đất bãi bồi liên tục bị lũ cuốn phăng. Gia đình ông Niệm từng ba lần dựng nhà rồi ba lần ngậm ngùi nhìn dòng nước cuốn trôi tất cả, có năm phải quay lại bè sinh sống suốt cả năm trời. Phải đến năm 2021, sau bao phen lao đao, ông mới hoàn thành ngôi nhà gạch kiên cố - lần dựng nhà thứ tư trên bờ.

Từ 14 hộ ban đầu, làng chài Vân Tập nay có 60 hộ với gần 300 nhân khẩu, điện lưới quốc gia sáng bừng, nhà văn hóa khang trang, tình làng nghĩa xóm bền chặt đến mức chẳng nhà nào cần đến hàng rào. Dẫu đã lên bờ, dòng sông vẫn là nơi mưu sinh của phần lớn các hộ dân nơi đây, khi nghề nuôi cá lồng và đánh bắt thủy sản vẫn được duy trì. Bây giờ, tôm cá trên sông đã cạn kiệt bởi những mẻ lưới vét và đặc biệt là nạn kích điện tàn sát tận diệt. Nhìn dòng sông Lô trăn trở, ông Niệm ngậm ngùi tiếc nuối: “Chỉ mong dòng Lô hạn chế khai thác cát, dẹp bỏ nạn kích điện, may ra môi sinh mới hồi phục, để con cháu còn có cái để mưu sinh như ông cha thuở trước”.

Chạy dọc theo dòng Đà giang hùng vĩ, chúng tôi tìm về xóm vạn chài nằm lặng lẽ dưới chân cầu Thống Nhất. Trên chiếc thuyền chòng chành theo nhịp sóng, ông Nguyễn Văn Khoát tay kéo sợi dây neo, gương mặt sạm nắng in hằn vết thời gian của một đời phong sương. Ở tuổi 71, ông đã có hơn nửa đời người gắn bó với xóm vạn chài, với dòng Đà giang này. Xóm vạn chài nơi đây là nơi quy tụ những con người gốc gác từ Bạch Hạc, Cổ Đô, Trung Hà... một thời ngược dòng đi tìm kế sinh nhai. Ông kể, có thời điểm xóm có tới 72 hộ với 247 nhân khẩu, nay qua nhiều thăng trầm chỉ còn lại khoảng 40 hộ.

Đã thôi nghề chài lưới do tuổi cao, sức yếu, giờ ông Khoát coi bè là nhà, nuôi cá lồng để có thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống ngay dưới chân đập thủy điện Hòa Bình.

Đã thôi nghề chài lưới do tuổi cao, sức yếu, giờ ông Khoát coi bè là nhà, nuôi cá lồng để có thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống ngay dưới chân đập thủy điện Hòa Bình.

Thanh niên trai tráng đã lên bờ vào các khu công nghiệp làm ăn, xóm chài giờ chủ yếu chỉ còn người già và trẻ nhỏ neo đậu bên những lồng cá dập dềnh. Cuộc sống của người vạn chài gắn chặt với nhịp xả lũ của thủy điện Hòa Bình: mùa nước lên phải lo neo giữ lồng bè, mùa nước rút lại tính chuyện chăm cá, thả lưới. Không có đất sản xuất, đất vườn trên bờ, dẫu chính quyền đã tạo điều kiện cấp hộ khẩu và bố trí đất làm nhà nhưng phần lớn cư dân vẫn phải bám lại mặt nước vì đó là tư liệu sản xuất duy nhất họ có.

Ông Khoát lại vẫn bám sông và chọn nuôi cá lồng để mưu sinh. Hai vợ chồng già phải đi thuê đất trên bờ để trồng cỏ, chuối, hằng ngày lại cặm cụi cắt hàng tạ cỏ kéo về bến để chăm cá. Không dùng cám tăng trọng nên cá lớn chậm, nhưng bù lại thịt chắc, thơm. Nghề nuôi cá lồng mang lại cho gia đình ông nguồn thu nhập ổn định khoảng 10 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Ông đã gắn bó với nghề mới này được dăm năm, sau khi gần như từ bỏ nghề thuyền chài vốn bấp bênh, may rủi theo con nước thượng nguồn.

Trầm ngâm kể về những hiểm nguy rình rập mỗi mùa mưa lũ, đứng từ trên cầu Thống Nhất nhìn xuống, xóm vạn chài lọt thỏm, nhỏ bé và chênh vênh đến nao lòng. Phía trên kia là phố xá đổi thay từng ngày, còn dưới này, nhịp sống vẫn chậm chạp, lặng lẽ và bấp bênh theo từng con nước.

Ba dòng sông Hồng, Lô, Đà hùng vĩ trên vùng Đất Tổ, qua lời kể của những “lão ngư” cuối cùng như ông Lập, ông Niệm, ông Khoát, hiện lên không chỉ với vẻ đẹp hùng vĩ của tự nhiên mà còn thấm đẫm mồ hôi, nước mắt của những phận người trôi nổi. Họ là nhân chứng sống cho một thời kỳ giao hòa giữa con người và thiên nhiên dữ dội, là những gạch nối cuối cùng giữ lại hồn cốt của văn hóa sông nước miền Đất Tổ trước khi mọi thứ chìm vào dĩ vãng xa xăm.

“Bọn trẻ giờ lớn lên có nhiều nghề để chọn vì không còn đói nghèo nữa. Đứa đi học, đi làm xa, đứa ở nhà thì theo tàu đi khắp nơi. Những người già còn theo nghề như chúng tôi cũng dần về với tổ tiên. Mai này, còn ai làm nghề nữa để truyền lại cho con cháu?”, ông Lập, ngồi bên hiên nhà, thở dài, và hướng đôi mắt xa xăm nhìn ra ngã ba sông, nơi cả tuổi trẻ của ông như còn in dấu chốn này.

Quốc Hội

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/nhung-lao-ngu-cuoi-cung-tren-song-261127.htm