Những mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản đạt trị giá tỷ USD
Việt Nam có bốn mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản đạt kim ngạch tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2026, thuộc nhóm phương tiện, điện tử và dệt may.
Số liệu từ Cục Hải quan cho biết, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Nhật Bản trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 23,3 tỷ USD, bao gồm xuất khẩu với 12 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 11,2 tỷ USD, tăng 16,6% YoY.
Bốn mặt hàng xuất khẩu tỷ USD
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam có bốn mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản đạt trị giá trên một tỷ USD. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,3 tỷ USD, tăng nhẹ 3,3% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 1,2 tỷ USD, tăng 16% YoY.
Việt Nam còn xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang Nhật Bản với trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 60% YoY; dệt may đạt 1,6 tỷ USD, giảm 6% YoY.
Tổng kim ngạch bốn mặt hàng trên đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 44% tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nhật Bản trong 5 tháng đầu năm 2026.
Ngoài nhóm tỷ USD, Việt Nam còn thu về 970 triệu USD từ xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, tăng 59,9% so với mức 606 triệu USD tại cùng kỳ năm trước.
Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu sang thị trường này tăng nhẹ 5% YoY, lên 904 triệu USD; thủy sản với 637 triệu USD, tăng 0,7% YoY; giày dép đạt 459 triệu USD, giảm 6% YoY; sản phẩm từ chất dẻo tăng 3,9% YoY, lên mức 322 triệu USD.
Một số mặt hàng xuất khẩu lớn có mức tăng trưởng đột biến như hóa chất tăng 116% YoY, từ 133 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 288 triệu USD tại kỳ này; đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận tăng 110% YoY, đạt 434 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu với 107% YoY, ở mức 166 triệu USD.
Ngược lại, một số mặt hàng lớn xuất khẩu lại giảm như cà phê giảm 12% YoY, còn 280 triệu USD; túi xách, ví vali, mũ, ô dù giảm 5% YoY, đạt 161 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép giảm 6% YoY, đạt 239 triệu USD...
Trong nhóm nông sản, Việt Nam thu về 100 triệu USD từ xuất khẩu rau quả sang Nhật Bản, tăng 3% YoY; hạt điều với 35,9 triệu USD, tăng 9% YoY; hạt tiêu với 9,5 triệu USD, giảm 5,9% YoY; sắn và sản phẩm từ sắn với 3,8 triệu USD, tăng 81,8% YoY.
Trong kỳ, Việt Nam còn thu về 829 triệu USD từ xuất khẩu hàng hóa khác sang Nhật Bản, tăng 23,9% YoY. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.
Giảm nhập khẩu nhiều mặt hàng nguyên vật liệu
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã chi 11,2 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước.
Hai mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch từ một tỷ USD trở lên, bao gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 4,2 tỷ USD, tăng 37% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 2,1 tỷ USD, tăng 3% YoY.
Tổng trị giá hai mặt hàng trên đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 56% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản trong kỳ.
Ngoài nhóm trên, một số mặt hàng nhập khẩu lớn từ Nhật Bản tăng cao như linh kiện và phụ tùng ô tô với 20% YoY, ở mức 305 triệu USD; kim loại thường khác tăng 46,9% YoY, đạt 269 triệu USD; hóa chất tăng 42,6% YoY, đạt 293 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép tăng 13% YoY, lên 190 triệu USD; ô tô nguyên chiếc với 16% YoY, ở mức 111 triệu USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 9,6% YoY, đạt 386 triệu USD.
Một số mặt hàng có mức tăng đột biến như đá quý, kim loại quý và sản phẩm với 109% YoY, từ 23 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 48 triệu USD tại kỳ này; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 444% YoY, từ 12,5 triệu USD lên 68,1 triệu USD.
Ngược lại, Việt Nam giảm nhập khẩu từ Nhật Bản các mặt hàng lớn như sắt thép giảm 17,8% YoY, còn 537 triệu USD; phế liệu sắt thép giảm 11,3% YoY, đạt 425 triệu USD; vải giảm nhẹ 0,4% YoY, còn 290 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, da giày giảm 6,2% YoY, ở mức 108 triệu USD.
Trong nhóm nông sản, Việt Nam chi 139 triệu USD để nhập khẩu thủy sản từ Nhật Bản, tăng 43% YoY; sữa và sản phẩm sữa với 15,6 triệu USD, giảm 4,8% YoY.
Việt Nam còn chi 593 triệu USD để nhập khẩu hàng hóa khác từ Nhật Bản trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 20,1% YoY. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.












