Những nghi thức truyền đời trong ngày giỗ của người Việt
Cỗ bàn dù linh đình, đồ lễ dù trang trọng, nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ không thỉnh mời các cụ, ắt hẳn các cụ không phối hưởng.

Tác giả: Toan Ánh/ NXB Trẻ
Nếp cũ
Nếp cũ gồm 4 cuốn: Con người Việt Nam; Tín ngưỡng Việt Nam; Làng xóm Việt Nam; Hội hè đình đám, cung cấp cho người đọc những hiểu biết cần thiết về cội nguồn của dân tộc, về những phong tục, tập quán, lễ nghĩa phong hóa xưa nay của ông cha ta.
Những nghi thức truyền đời trong ngày giỗ của người Việt
Cỗ bàn dù linh đình, đồ lễ dù trang trọng, nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ không thỉnh mời các cụ, ắt hẳn các cụ không phối hưởng.
Hóa vàng
Hóa vàng, còn gọi là nấu vàng “tức là đem đốt những vàng mã, vàng nghìn hoặc vàng giấy” của con cháu gửi giỗ hoặc khách khứa mang tới. Phải kể cả những tấm hàng, những cuộn giấy đủ màu, tượng trưng cho những tấm vải, con cháu đã mua cúng trong ngày giỗ, cũng được “hóa” cùng với vàng mã.
Trong suốt ngày giỗ, gia trưởng và con cháu rất vất vả nào phần đáp lễ, nào phần tiếp khách, nhiều khi không có cả thì giờ ăn uống, nên ta có câu “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”.
Cho đến khi hóa vàng, ngày giỗ mới kể là xong. Lúc hóa vàng con cháu đổ vào đống lửa một chén rượu cúng, chén rượu này như trên đã nói theo các cụ, cốt để biến những vàng mã giấy trên dương gian thành vàng thật, đồ dùng thật dưới âm phủ. Người ta lại còn thường hơ một chiếc đòn gánh hoặc một chiếc gậy để gánh vàng mã về cõi âm.
Sau khi hóa vàng, hương đèn trên bàn thờ không cần giữ cháy nữa. Hương hồn người khuất đã trở lại cõi âm để tiếp tục “sống” cuộc sống ở Hoàng tuyền cho tới ngày giỗ năm sau.

Hóa vàng mã cho người đã khuất là một niềm tin tâm linh của người Việt. Ảnh: Nation Thailand.
Văn khấn giỗ
“Ăn có mời, làm có khiến”, đối với người chết cũng vậy.
Một mâm cơm dù thịnh soạn và dù có con cái mình nếu chúng không mời tất nhiên bố mẹ cũng không ăn, cũng như cỗ bàn dù linh đình, đồ lễ dù trang trọng, nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ không thỉnh mời các cụ, ắt hẳn các cụ không phối hưởng.
Ta thường nói “tâm động quỷ thần tri” nghĩa là người có lòng thì quỷ thần chứng giám, nhưng quỷ thần có chứng giám cũng phải có hương đăng và cũng phải thành tâm!
Bởi vậy trong ngày giỗ con cháu phải khấn mời để tổ tiên phối hưởng. Đã nói “tâm động quỷ thần trị”, lời khấn dù thô sơ, nôm na tới đâu, hương hồn các cụ cũng thông cảm và thụ hưởng những lễ vật của con cháu dâng lên.
Người Việt Nam vốn xưa nay trọng lễ nghi, mọi trường hợp cúng vái đều có văn khấn riêng.
[...]
Khi khấn đến tên người chết, phải khấn lâm râm rất khẽ trong miệng để tỏ lòng thành kính. Người xưa kính trọng ai không bao giờ đọc tới tên người đó.
Khấn giỗ cần khấn hết tên tục, tên hiệu, tên hèm của người hưởng giỗ. Tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu, tức là biệt hiệu, còn tên hèm tức là tên thụy, tên khi người chết hấp hối tự đặt cho mình, để sau này con cháu khi cúng thì khấn tới.
Con cháu lúc khấn giỗ cần phân biệt các hàng kỵ, cụ, ông bà và cha mẹ.
Đàn ông khấn chữ khảo, còn đàn bà khấn chữ tỷ.
* Cao tằng tổ khảo tức là kỵ ông, đối với người khấn là năm đời.
* Cao tằng tổ tỷ tức là kỵ bà.
* Tằng tổ khảo tức là cụ ông, đối với người khấn là bốn đời, hay nói khác người khấn là chắt.
* Tằng tố tỷ tức là cụ bà.
* Tổ khảo tức là ông, đối với người khấn là ba đời, hay nói khác người khấn tức là cháu.
* Tổ tỷ tức là bà.
* Hiền khảo tức là cha.
* Hiền tỷ tức là mẹ.
Kể từ đời thứ sáu trở đi con cháu không phải cúng giỗ nữa.
Trong ngày giỗ, sau khi khấn giỗ xong, phải buông chiếc y môn tức là bức màn thờ xuống để các cụ hưởng lễ.











