Những người mẹ đào địa đạo ở Củ Chi

Từ những năm chống Pháp, phụ nữ Củ Chi đã tích cực tham gia xây dựng (XD) xã chiến đấu, đào địa đạo, giao thông hào. Điểm nổi bật của chiến tranh du kích ở Củ Chi thời kỳ này là địa đạo chiến.

Năm 1948, đồng bào các xã Tân Phú Hội, Phước Vĩnh An (ở Cây Da, Bà Giả), An Nhơn Tây, Trung An vì không muốn bị địch bắt đi sau những cuộc hành quân gom dân nên nảy ra sáng kiến: Đào những hầm bí mật cá nhân thành hầm bí mật liên gia và từ hầm bí mật liên gia phát triển thành những con đường hầm chạy dài từ xóm này sang xóm khác với nhiều ngăn, nhiều nếp và nhiều nắp, nhiều đường chạy dài trong lòng đất. Hầm có chỗ ẩn nấp cho lợn, gà, trâu, bò và còn có những ổ chiến đấu cho du kích. Đào hầm bí mật và địa đạo thì chồng con cùng tham gia, nhưng bảo vệ là chức năng, là truyền thống của các mẹ, các chị. Giấu cán bộ và bộ đội, thậm chí cả thương binh, tiếp tế thức ăn xong, chính phụ nữ là người cuối cùng đậy nắp, xóa mọi dấu vết và cũng là người đầu tiên mở nắp đưa người ở dưới hầm và địa đạo lên. Chị em đem tính mệnh của mình và gia đình để bảo đảm an toàn cho cán bộ, bộ đội, thương binh.

Các mẹ, các chị cùng du kích Củ Chi đào chiến hào lập vành đai diệt Mỹ (năm 1966)

Các mẹ, các chị cùng du kích Củ Chi đào chiến hào lập vành đai diệt Mỹ (năm 1966)

Nhờ có địa đạo mà khoảng tháng 7/1950, giặc mở trận càn vào Tân Phú Trung, với lực lượng là 5 tiểu đoàn, càn quét trong vòng 15 ngày đêm nhưng không hề bắt được cán bộ nào, không người dân nào bị giết, mà ngược lại địch còn bị du kích chặn đánh, cuối cùng phải tháo lui.

Tác dụng của địa đạo chiến làm cho phong trào đào địa đạo lan rộng ra các xã, nhất là những xã vùng cao, chị em tham gia rất tích cực. Cho đến năm 1950, chỉ tính riêng các xã: Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, An Nhơn Tây, Tân An Hội, đường địa đạo đã có trên 100 cây số chiều dài.

Những năm chống Pháp, hệ thống hầm bí mật phát triển thành “địa đạo” kéo dài thông 3 xã Tân Phú Trung, Tân An Hội, Phước Vĩnh An có thể chứa cả tiểu đoàn, với đủ lương thực thực phẩm, sống cả nửa tháng trời trong lòng đất. Đến kháng chiến chống Mỹ, hệ thống địa đạo ở Củ Chi phát triển rộng với nhiều tầng, hầm, ngóc ngách giúp những người con trung kiên bám trụ chiến trường đánh giặc. Địa đạo Củ Chi là biểu tượng về ý chí gang thép, quật cường của người dân Sài Gòn - Gia Định.

Suốt mấy mươi năm, bà Nguyễn Thị Xà - nguyên Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc xã An Nhơn Tây - còn giữ bài thơ “Chiến khu An Nhơn Tây” của Tô Hà, viết năm 1949. Lời thơ mộc mạc ấy chứa đựng, phản ánh không khí kháng chiến chống Pháp sôi nổi cũng như vai trò chiến lược đặc biệt ở Củ Chi:

Gia Định có nhiều chiến khu

Chiến khu nổi tiếng thuộc về An Nhơn Tây

An Nhơn Tây, chiến khu này

Đã từng ngập máu, phơi thây quân thù...

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, vùng giải phóng Củ Chi là căn cứ đứng chân chỉ đạo của Khu Sài Gòn - Gia Định. Sau Đồng khởi, vùng giải phóng phía Bắc Củ Chi là vùng liên hoàn 3 xã Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng. Nhuận Đức là căn cứ địa Cách mạng, địa bàn tiếp giáp giữa vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm nên cùng với việc củng cố, XD lực lượng Cách mạng, việc XD thế trận chiến đấu vô cùng quan trọng để bảo vệ vùng giải phóng. Phong trào đào địa đạo ở vùng giải phóng và các xã ở Củ Chi từ thời chống Pháp nay được tiếp nối, cải tiến và phát triển sức mạnh ở các ấp. Lực lượng đào địa đạo là phụ nữ còn đông hơn nam giới. Với tinh thần “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và Nhân dân thường xuyên đào địa đạo, giao thông hào liên ấp, liên xã dài hàng trăm cây số; đào nhiều ổ, ụ chiến đấu, thay đổi địa hình, đường giao thông. Bình quân mỗi người dân (từ thiếu nhi đến người già) đào từ 1 - 10 hầm chông, hố đinh tự quản và gài bẫy chông để ngăn địch càn quét vào xã, ấp.

Địa đạo phát triển ngày càng hoàn chỉnh, có đường xương sống và vô số đường nhánh nối liền chằng chịt như mạng nhện trong lòng đất. Dưới địa đạo có nhiều tiện nghi cần thiết như hầm ngủ, hầm hội họp, liên hoàn hầm quân y phẫu thuật và điều dưỡng thương binh, xưởng sản xuất vũ khí tự tạo, kho hậu cần, giếng nước... Hệ thống chiến hào, công sự trên mặt đất được nối vào địa đạo, trở thành thế trận hiểm yếu. Địa đạo đã mang tính chất địa đạo chiến rất linh hoạt, sinh động trong bám trụ, bảo toàn lực lượng và làm bàn đạp xuất phát tiến công kẻ thù. Giá trị khoa học của địa đạo Củ Chi chính là ở thế trận độc đáo của chiến tranh Nhân dân. Đây là làng chiến đấu ngầm - một công trình to lớn, biểu tượng của tinh thần quyết chiến “một tấc không đi, một ly không rời”, là nơi che chở CBCS đồng thời cũng trở thành nỗi kinh sợ đối với kẻ thù.

Dựa vào hệ thống địa đạo ngày một phát triển, các giao thông hào, công sự, ụ chiến đấu, hầm chông, hố đinh, bãi mìn, trái nổ..., xã Nhuận Đức (căn cứ của Huyện ủy Củ Chi ngày ấy) trở thành xã chiến đấu. Nhờ đó, bộ đội địa phương và du kích đã bẻ gãy nhiều cuộc càn quét gom dân lập ấp chiến lược của địch. Ngoài ra, suốt ngày đêm chị em còn vót chông, làm hầm hố chông, XD xã, ấp chiến đấu.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trương Thị Trừ (SN 1936, ở xã Trung Lập Hạ, Củ Chi cũ) bên di ảnh con và chiếc cuốc đào địa đạo năm xưa

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trương Thị Trừ (SN 1936, ở xã Trung Lập Hạ, Củ Chi cũ) bên di ảnh con và chiếc cuốc đào địa đạo năm xưa

Theo số liệu đăng trên Báo Khu Sài Gòn - Gia Định năm 1963, có 124.000km địa đạo, trong đó riêng Củ Chi trên 100.000km. Góp phần làm nên hệ thống địa đạo lịch sử, được xem là biểu tượng ý chí thép của Nhân dân Miền Nam chống Mỹ có những bàn tay nhỏ bé của những người mẹ, người chị. Bình quân 1 ngày chị em đào được 6m tới. Lúc bấy giờ có khẩu hiệu “Nhà nhà đào địa đạo, người người đào địa đạo”.

Mẹ Huỳnh Thị Nuôi có 2 con trai hy sinh. Bà con ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng (cũ) còn nhớ rõ Mẹ từng nấu cơm tiếp tế cho Cách mạng, vót chông rào làng chiến đấu. Mẹ còn đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ Cách mạng, tham gia đấu tranh chính trị. Có nhiều trận bị địch đàn áp, đánh đập rất dữ nhưng Mẹ không nao núng.

Mẹ Trương Thị Trừ ở ấp Gia Bẹ, xã Trung Lập Hạ (cũ) cũng có 2 con trai hy sinh. Cho đến giờ, Mẹ vẫn còn giữ được chiếc cuốc sử dụng đào địa đạo ở xã Nhuận Đức. Mẹ kể: “Hồi đó chị em rất hăng hái đào địa đạo, đào ban ngày lẫn ban đêm”. Người mẹ ấy vượt lên hoàn cảnh riêng tư, hòa mình vào phong trào đấu tranh Cách mạng ở Củ Chi, lặng lẽ tiễn các con trai đi chiến đấu và hy sinh.

Lòng dân như biển cả, những “bà mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh” mà “nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc”, trải qua 2 cuộc kháng chiến các mẹ vẫn đào hầm che chở cho con. Đời còn giặc thì mẹ vẫn đào hầm, con cháu mẹ ra đi kháng chiến đã có các bà mẹ khác lo cho, nay ở nhà mẹ lại lo cho những đứa con mới đến. Các đồng chí trong Xã ủy như Bảy Điếc, Tư Danh, Năm Hoàng, Tư Bê, Tám Chế... và một số đồng chí là lực lượng Công an xã, huyện như Ba Rô, Sáu Ngàn, Tư Đan... đều sống chung trong đại gia đình xã Phước Hiệp. Từ Ba Sa - Trung Viết, Mũi Côn đến Phước Hòa, Cây Trôm ở đâu cũng có cơ sở Cách mạng an toàn như má Tám Rành, gia đình bà Đoàn Thị Ấu, ông Phạm Văn Tờ, Nguyễn Văn Tranh, các bà Hà Thị Lơ, Đỗ Thị Tốc, Hồ Thị Bẩn...

Những người phụ nữ trong ấp chiến lược với tình thương bao la, lòng nhân hậu, dũng cảm, là nơi cưu mang, che chở, nuôi giấu cán bộ Cách mạng, như câu chuyện cảm động về mẹ Châu Thị Ngoạt ở Phú Hòa Đông. Năm người con của mẹ đều thoát ly ở độ tuổi còn rất trẻ, tham gia công tác phụ nữ, du kích mật và bộ đội. Nhà mẹ ở sát rừng chồi và sở cao su, có hầm bí mật gắn liền giao thông hào, tiếp giáp địa đạo nên có nhiều cơ quan, đơn vị bám trụ công tác, như cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Huyện ủy, Xã ủy Phú Hòa Đông. Gia đình mẹ là căn cứ lõm của Cách mạng. Một buổi chiều trời mưa dầm, xe lội nước và bộ binh Mỹ rượt đuổi cậu Út Một, định bắt sống anh. Cậu chạy vào nhà mẹ Ngoạt, được mẹ giấu dưới hầm. Lùng sục khắp nơi không tìm được, chúng bỏ đi. Cậu Út Một ghi tạc vào lòng công ơn mẹ như người mẹ sinh ra anh lần thứ hai. Mẹ có người con tham gia du kích mật, nhiệm vụ “diệt ác phá kềm” trong ấp chiến lược. Bọn tề làng tình nghi, bắt gia đình mẹ mỗi tháng phải đến xã trình diện, nhưng mẹ vẫn không nao núng, vẫn nuôi giấu cán bộ, hoạt động hợp pháp.

Thật cảm động khi câu chuyện mẹ chiến sĩ Trần Thị Bến (SN 1906) ở ấp Phú An, xã Phú Hòa Đông vẫn còn lưu truyền đến hôm nay. Nhà mẹ nghèo, nằm cạnh sông Sài Gòn, tiếp giáp Tỉnh lộ 15, đi từ Hóc Môn đến Bến Súc (Bình Dương cũ), sống bằng nghề đưa khách sang sông. Nhà mẹ là nơi nuôi chứa cán bộ, bộ đội, du kích địa phương hoạt động. Từ năm 1960 - 1966, đây là nơi tiếp giáp vùng giải phóng, cũng là tụ điểm ta bám trụ hoạt động. Con gái mẹ thoát ly hoạt động, mẹ đưa đò kiếm sống. Chồng mẹ đi đăng lưới, cùng mẹ lo cuộc sống gia đình, ủng hộ nuôi quân. Ngày 12/01/1962, địch mở trận càn bố ráp đường bộ và đường thủy, đột kích bến đò với ý đồ bao vây, bắt sống CBCS ta. Nghe tin gần 50 CBCS ta tập trung tại bến đò qua sông, địch phục kích lúc nửa đêm, chờ lệnh nổ súng, bị lộ nhưng mẹ Bến tỏ ra bình tĩnh, nhanh tay chèo đò, đưa quân ta vượt sông Sài Gòn. Xuồng mẹ nhỏ nên chỉ chở mỗi lần khoảng 12 người. Tay mẹ siết chặt cây chèo, lấy hết sức già lao thuyền, lướt nhanh qua sông. Được 2 chuyến, vượt thoát được 30 người; còn lại 12 người, mẹ không kịp rước. Tàu địch bắt đầu bố ráp, nổ súng hơn 2 tiếng đồng hồ. Địch rút quân, máu chảy đầy sông. Mẹ khóc nghẹn ngào: “Nếu mẹ đưa kịp chuyến thứ ba thì các con không phải hy sinh!”.

Đất Củ Chi thấm tình đồng bào cho những đoàn quân ẩn mình trong lòng đất, tựa vào Nhân dân đánh giặc. Có biết bao những người mẹ, người chị Củ Chi đào địa đạo, đào hầm bí mật, hy sinh cả mạng sống, chấp nhận tù đày để nuôi giấu cán bộ, bảo vệ Cách mạng. Tình quân dân, nghĩa đồng bào thấm trong từng thớ đất Củ Chi.

Trầm Hương

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/nhung-nguoi-me-dao-dia-dao-o-cu-chi_196592.html