Những nhà băng nào đang phụ thuộc nhiều nhất vào vốn liên ngân hàng?
Tại thời điểm 31/3/2026, gần 2/3 số nhà băng trong hệ thống ghi nhận tỷ trọng vốn liên ngân hàng trên tổng nguồn vốn tài trợ tăng so với đầu năm, phản ánh mức độ phụ thuộc vào vốn TT2 tăng lên khi huy động TT 1 khó khăn. Trong đó, Nam A Bank, SeABank, PGBank là 3 nhà băng có tỷ trọng vốn liên ngân hàng trên nguồn vốn ở mức hơn 30%.
Huy động liên ngân hàng quý I tăng mạnh nhất tại TPBank và SeABank, tỷ trọng lớn nhất tại Nam A Bank
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, huy động vốn toàn hệ thống tính đến hết quý I/2026 chỉ tăng khoảng 0,55% so với đầu năm, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3,18% của tín dụng. Báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy hàng chục ngân hàng ghi nhận tiền gửi khách hàng giảm so với đầu năm.
Trong bối cảnh huy động thị trường 1 khó khăn, các ngân hàng đã tăng cường vốn huy động từ nhiều kênh khác, bao gồm phát hành giấy tờ có giá (+ 9,8% so với đầu năm lên 1,87 triệu tỷ) và huy động liên ngân hàng (+2,8% lên 3,65 triệu tỷ).

Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Theo thống kê của PV, tại ngày 31/3/2026, gần 2/3 số nhà băng trong hệ thống có tỷ trọng vốn liên ngân hàng trên tổng nguồn vốn tài trợ (tiền gửi khách hàng, huy động liên ngân hàng, tiền gửi kho bạc, phát hành GTCG và vốn chủ sở hữu) tăng so với đầu năm, phản ánh mức độ phụ thuộc vào vốn liên ngân hàng tiếp tục tăng.
Xét về mức tăng, SeABank và TPBank là hai nhà băng có tỷ lệ vốn liên ngân hàng trên nguồn vốn tăng mạnh nhất trong quý đầu năm (cùng tăng 3,8 điểm % so với quý IV/2025). Tại cả 2 ngân hàng này, tiền gửi khách hàng đều tăng trưởng âm trong quý đầu năm, lần lượt -3,1% và -4,3%.
Còn nếu xét về tỷ trọng, Nam A Bank hiện là nhà băng có mức độ phụ thuộc lớn nhất vào nguồn vốn liên ngân hàng.
Tính đến 31/3/2026, Nam A Bank có 139.648 tỷ đồng tiền gửi và vay từ các TCTD khác; tương ứng tỷ trọng khoảng 36,6% nguồn vốn tài trợ. Con số này dù đã giảm từ mức 40,1% vào cuối quý IV/2025 nhưng vẫn dẫn đầu hệ thống.
Đứng thứ hai là SeABank với tỷ trọng vốn liên ngân hàng tại cuối quý I/2026 là khoảng 32,9%, tăng từ mức 29% vào cuối năm ngoái.
Ở vị trí thứ 3, PGBank ghi nhận tỷ trọng vốn liên ngân hàng là 32,8%, gần như đi ngang so với cuối quý IV/2025.
Một số ngân hàng như MSB, TPBank, VIB, OCB, VPBank... cũng có mức độ phụ thuộc đáng kể vào vốn thị trường 2, với tỷ trọng vốn liên ngân hàng trên 20%.

Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Tác động từ giai đoạn lãi suất TT 2 nổi sóng dần bộc lộ
Nhìn lại giai đoạn quý IV/2025 - quý I/2026, trước áp lực thanh khoản hiện hữu, lãi suất liên ngân hàng liên tục duy trì ở mức cao. Có thời điểm, lãi suất qua đêm tăng vọt lên 12%, trước khi NHNN tiếp tục bơm ròng lượng lớn tiền đồng qua kênh OMO để hỗ trợ thanh khoản. Cùng lúc, trên thị trường 1, lãi suất huy động cũng thiết lập mức nền cao mới.
Tác động từ biến động lãi suất đã bắt đầu phản ánh vào các chỉ tiêu tài chính trên BCTC của các ngân hàng. Đáng chú ý, các ngân hàng có mức độ phụ thuộc lớn hơn vào thị trường 2 cho thấy mức tăng chi phí vốn (COF) cao hơn đáng kể so với trung bình ngành.
Chẳng hạn, Nam A Bank, nhà băng có mức độ phụ thuộc vào vốn liên ngân hàng cao nhất ngành ghi nhận mức tăng COF (QoQ) cao nhất hệ thống trong quý đầu năm. Ước tính COF (ttm) quý I của Nam A Bank ở mức 5,21%, tăng 0,68% so với quý IV/2025 và tăng 0,72% so với cùng kỳ. Điều này góp phần đưa NIM tiếp đà giảm về 2,66%, thấp nhất trong hàng chục quý gần đây.
Tại SeABank, COF (ttm) quý I cũng ghi nhận tăng 0,36% so với quý IV/2025 và tăng 0,8 điểm % so với cùng kỳ 2025, góp phần đưa biên lãi giảm xuống 2,69% - mức đáy trong 10 quý trở lại đây.
Tương tự, mức độ phụ thuộc vào vốn liên ngân hàng cũng phần nào thể hiện tác động trong diễn biến chi phí vốn của PGBank, với COF tăng 0,43% QoQ và tăng 0,88% cùng kỳ. NIM (QoQ) dù tăng nhẹ 0,03 điểm % lên 2,44%, nhưng vẫn là mức tiệm cận đáy hàng chục quý.
Một số nhà băng như TPBank, VIB, VietBank... cũng ghi nhận chi phí vốn tăng mạnh, tác động đến biên lãi.

Các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường 2 có mức độ gia tăng chi phí vốn (COF) trong top cao nhất ngành. Ảnh: T.D tổng hợp
"Điểm đáng lưu ý là thị trường liên ngân hàng chỉ giải quyết được vấn đề ngắn hạn chứ không phải nguồn vốn dài hạn để tài trợ tín dụng. Nếu một ngân hàng phải liên tục vay trên thị trường 2 để bù cho phần huy động thiếu hụt, chi phí vốn của ngân hàng đó sẽ biến động mạnh và khó kiểm soát.
Trong trường hợp lãi suất liên ngân hàng tăng cao, ngân hàng có thể vẫn phải giảm lãi suất cho vay theo định hướng chung, nhưng chi phí vốn đầu vào thực tế lại không giảm. Khi đó, NIM bị thu hẹp và áp lực lợi nhuận xuất hiện".
Lê Hoài Ân, CFA

Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh trong GĐ quý IV/2025-quý I/2026. Ảnh: MAS
Mặc dù lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt bớt trong những tuần gần đây, giới phân tích cho rằng mức nền chung nhiều khả năng vẫn sẽ duy trì ở mức cao trong quý II/2026 do yếu tố tỷ giá cũng như chênh lệch tín dụng - huy động (tỷ lệ LDR tại cuối quý I/2026 đã lên mức 112%). Điều này có thể tiếp tục tác động đến chi phí vốn của các nhà băng, đặc biệt những nhà băng có tỷ trọng huy động vốn liên ngân hàng cao.
Nhìn xa hơn, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định các ngân hàng có mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn vốn ngắn hạn liên ngân hàng có khả năng sẽ chịu áp lực gia tăng chi phí vốn cao hơn để tái tuân thủ tỷ lệ NSFR (Net Stable Funding Ratio - tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng) - dự kiến sẽ được sử dụng thay thế cho “tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn" theo nội dung Dự thảo thay thế Thông tư 22 của Ngân hàng Nhà nước.
Liên quan đến tỷ lệ NSFR, VDSC cho rằng cùng với việc chuyển từ chỉ tiêu “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi” (LDR) sang “tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn” (CDR); việc sử dụng "tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng" NSFR thay thế cho “tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn" là những điều chỉnh quan trọng tại Dự thảo thay thế Thông tư 22 của NHNN.
Các quy định về NSFR trong Dự thảo khuyến khích NHTM huy động tiền gửi từ bán lẻ và giấy tờ có giá trung dài hạn, trong khi giảm phụ thuộc vào nguồn vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng. Đồng thời, khuyến khích NHTM nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao (như TPCP) và hạn chế cấp tín dụng kỳ hạn dài (tính thanh khoản thấp) hoặc có rủi ro cao (góp vốn mua cổ phần, cho vay thế chấp BĐS, TPDN…). Qua đó, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu toàn diện cấu trúc bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Trong ngắn hạn, VDSC đánh giá quy định mới có thể đồng nghĩa với tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm và chi phí vốn tăng tại các NHTM (với mức độ ảnh hưởng cụ thể phụ thuộc vào tính chất của nguồn vốn và tài sản). Nhưng về dài hạn, nó có thể tạo ra một "bộ đệm" an toàn vững chắc, giúp hệ thống ngân hàng tránh được các cú sốc thanh khoản tương tự như giai đoạn 2011-2012.











