Những rào cản cần tháo gỡ để Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất UAV của thế giới

Mặc dù sở hữu những lợi thế 'vàng' để trở thành trung tâm sản xuất máy bay không người lái (UAV) của thế giới, song các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với thủ tục hành chính phức tạp và những khoảng trống pháp lý.

Drone, hay còn gọi là máy bay không người lái (UAV - Unmanned Aerial Vehicle), không còn là khái niệm xa lạ. Đây là thiết bị bay được điều khiển từ xa hoặc hoạt động tự động nhờ hệ thống định vị và cảm biến. Với khả năng linh hoạt, thiết kế nhỏ gọn và chi phí vận hành thấp, drone đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống, từ logistics, nông nghiệp, quay phim cho đến các ứng dụng phức tạp trong an ninh - quốc phòng.

Tại buổi làm việc với Real-time Robotics, công ty chuyên về robot và máy bay không người lái tại Việt Nam hồi đầu tháng 3/2026, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, Việt Nam có thể trở thành trung tâm sản xuất drone của thế giới bởi hội tụ đủ bốn điều kiện hiếm có: kỹ sư phần mềm và AI, chuỗi cung ứng điện tử Đông Á, năng lực sản xuất chi phí thấp, thị trường ứng dụng rộng lớn. Nếu kết hợp tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm phát triển drone hàng đầu.

"Drone là sản phẩm hội tụ của AI, phần mềm và sản xuất điện tử. Đây chính là ba lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế. Vì vậy Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một cường quốc drone", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhìn nhận.

Tuy nhiên, báo cáo mới nhất từ Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) đã chỉ ra rằng, những khoảng trống pháp lý và quy trình hành chính rườm rà đang khiến các doanh nghiệp nội địa gặp khó.

Thiếu hành lang pháp lý

Mô hình 1:6 chiếc UAV điện chở khách của CT UAV - công ty thành viên của CT Group.

Mô hình 1:6 chiếc UAV điện chở khách của CT UAV - công ty thành viên của CT Group.

Qua tổng hợp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, Ban IV cho biết, Việt Nam hiện vẫn thiếu một khung pháp lý đồng bộ để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển (R&D) và sản xuất UAV. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là sự vắng bóng của cơ chế thử nghiệm (sandbox) và hạ tầng khu bay chuyên dụng.

Hiện nay, dù một số địa phương như TP Hồ Chí Minh đã có cơ chế đặc thù, các doanh nghiệp vẫn phải xin phép qua nhiều cấp mỗi khi cất cánh. Việc thiếu quy định rõ ràng về phạm vi, độ cao hay hành lang bay không chỉ gây rủi ro bị kiểm tra đột xuất mà còn triệt tiêu động lực đổi mới sáng tạo, kéo dài thời gian đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thực tiễn.

Bên cạnh đó, dù Bộ Quốc phòng đã ban hành danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật, nhưng Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) cụ thể cho UAV vẫn chưa được hoàn thiện. Việc viện dẫn các tiêu chuẩn quốc tế cũ hoặc thiếu sự phân cấp rõ ràng giữa drone dân dụng, công nghiệp và quân sự khiến doanh nghiệp lúng túng trong thiết kế và đánh giá chất lượng. Đáng lo ngại hơn, việc thiếu tiêu chí xác định “Drone Made in Vietnam” và cơ chế cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) đang khiến cánh cửa xuất khẩu bị thu hẹp, dù nhu cầu từ thị trường toàn cầu đang tăng trưởng phi mã.

Vấn đề an ninh cũng là một rào cản lớn. Việc chưa có hệ thống Quản lý và Điều phối UAV quốc gia (UTM) hay quy định về dữ liệu bay thời gian thực gây khó khăn cho công tác quản lý và tiềm ẩn rủi ro về chủ quyền không gian tầm thấp. Các chuyên gia nhấn mạnh, việc triển khai thiết bị truyền dữ liệu qua hạ tầng viễn thông nội địa và đặt máy chủ trong nước là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm an toàn quốc phòng song hành với phát triển kinh tế.

Quy trình cấp phép nhiều khâu

Không chỉ gặp khó ở khâu vận hành, các doanh nghiệp UAV còn gặp khó khăn trong nhập khẩu linh kiện và thiết bị UAV. Để nhập khẩu một lô hàng, doanh nghiệp phải trải qua 6 bước, từ xin phép UBND cấp tỉnh, qua Sở Công Thương, đến sự thẩm định của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Mặc dù thời gian lý thuyết là 11 ngày làm việc, thực tế doanh nghiệp thường mất nhiều tháng do sự chồng chéo và yêu cầu xác minh phức tạp. Việc quản lý theo từng lô hàng thay vì theo model sản phẩm đang làm tăng chi phí và gây đứt gãy tiến độ sản xuất trong bối cảnh Việt Nam chưa tự chủ hoàn toàn chuỗi cung ứng.

Một bất cập khác được Ban IV chỉ ra nằm ở quy định về nhân sự kỹ thuật. Nghị định 288/2025/NĐ-CP quy định về quản lý tàu bay không người lái và phương tiện bay khác (Nghị định 288) yêu cầu doanh nghiệp phải có ít nhất 3 nhân sự tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật hàng không. Tuy nhiên, giới chuyên môn cho rằng quy định này chưa sát thực tiễn. Công nghệ UAV là sự giao thoa đa ngành của CNTT, điện tử viễn thông và cơ điện tử, chứ không thuần túy là khí động học như hàng không truyền thống.

Bên cạnh đó, việc yêu cầu quy trình sửa chữa phải đạt các tiêu chuẩn hành chính cứng nhắc trong khi hệ thống đào tạo chuyên biệt chưa hoàn thiện đã tạo ra một vòng luẩn quẩn. Hầu hết các quy trình hiện nay dựa trên hướng dẫn của hãng sản xuất; việc áp đặt các tiêu chuẩn thiếu hệ sinh thái hỗ trợ sẽ bó hẹp không gian phát triển của dịch vụ hậu cần UAV.

Từ những khó khăn trên, Ban IV đề xuất sớm ban hành hướng dẫn chi tiết dưới Nghị định 288, làm rõ chính sách sandbox, hạ tầng khu bay chuyên dụng và tiêu chuẩn “Made in Vietnam” để doanh nghiệp tự tin đầu tư R&D.

"Cần xem xét điều chỉnh cách tiếp cận quản lý theo hướng xác định rõ các rủi ro cần kiểm soát và thiết kế cơ chế quản lý phù hợp hơn với thực tiễn công nghệ, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực sản xuất, sửa chữa và phát triển UAV", Ban IV nêu.

Trong bối cảnh các doanh nghiệp UAV Việt Nam đang phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp nước ngoài, cần xem xét các cơ chế hỗ trợ như miễn thuế hoặc ưu đãi thuế trong giai đoạn đầu (khoảng 5 năm) nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh. Ban IV cũng đề xuất chuyển từ quản lý theo lô hàng sang quản lý theo model sản phẩm và đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu linh kiện nghiên cứu.

Minh Thu

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/doanh-nghiep/nhung-rao-can-can-thao-go-de-viet-nam-tro-thanh-trung-tam-san-xuat-uav-cua-the-gioi/20260314080656450