Những tên làng, tên núi, tên sông
Cái tên đâu chỉ là tên gọi, nó còn là ước mơ, kỳ vọng mà người ta gửi gắm vào đó.

Hòn Kẽm Đá Dừng ở Hiệp Đức. Ảnh: Tư liệu
Chuyện kể xưa có anh học trò Nguyễn Thắng khi đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1864 mà lại hỏng kỳ thi Hội tiếp sau, bèn đổi tên là Nguyễn Khuyến, để luôn nhắc mình phải cố gắng thêm nữa, để rồi khóa tiếp theo, 1871, cụ đỗ đầu cả kỳ thi Hội và thi Đình, đó là cụ Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến.
Ở bên Trung Quốc, cậu học trò Chu Thụ Nhân vì một lần đi học trễ mà lấy tên chữ là Lỗ Tấn để nhắc nhở mình là “tấn hành” (đi nhanh lên), đó là nhà văn Lỗ Tấn nổi tiếng.
Tên người đã thế, tên đất cũng như thế, mỗi cái tên hàm chứa một ý nghĩa.
Tôi vẫn thường suy ngẫm về những cái tên đẹp của quê tôi. Hiệp Đức, tên huyện là khát vọng, ý chí hợp (hiệp) lòng, cộng đức mà xây dựng quê hương. Rồi một dải đất vùng quê núi đồi trùng điệp, hoa trái tốt tươi cũng cất giữ những hoài bão.
Quế Lưu - lưu giữ hương thơm, làm sao như quế trên non/ trăm năm khô rụi vẫn còn thơm tho. Phú Cốc - vùng quê no ấm giàu lúa gạo. Việt An - an lành, ưu tú.
Cũng có những tên làng, tên xóm thật hay. Ngọc Sơn - núi ngọc. Hương Phố - vườn thơm hương. Lộc An - an bình tài lộc. Hội Tường - nơi gặp gỡ điềm lành…
Quê tôi có con sông Thu Bồn, dòng sông xanh mát bắt nguồn từ dãy Ngọc Linh, qua các vùng Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An rồi đổ vào Biển Đông.
Tại sao lại là Thu Bồn? Dòng sông quanh năm xanh mát như nước mùa thu, như trời mùa thu? Còn bồn? Tôi không thuận theo ý đa số người rằng “bồn” là cái chậu tắm, rằng dòng sông, nơi tắm gội.
Tôi yêu cái nghĩa “bồn” là sinh nở. Dòng sông mẹ, sinh ra những vùng văn hóa đậm đà bản sắc. Và tôi nghĩ về những dòng sông đã hình thành nên những vùng văn hóa bên đôi bờ dòng chảy của những nền văn minh lúa nước lâu đời. Phải chăng Thu Bồn là ghi nhận vai trò của sông mẹ với những vùng đất văn hóa phía Tây Nam thành phố Đà Nẵng?
Cái địa danh luôn là nhớ thương nơi con người quê xứ, nên đi bất cứ nơi đâu, họ lại lấy tên quê cũ mà đặt tên làng tên xã, họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân (Nguyễn Khoa Điềm).
Ấy vậy mà, cái tên chữ ngày xưa, theo thời gian, cứ mai một dần trong nhận thức cháu con, nhất là kể từ khi chữ Quốc ngữ thay chữ Nho, cái nghĩa cứ ngày một rơi rụng, như một lãng quên nếp xưa tông tổ. Có các cháu nhỏ khi ghi thôn Hội Tường lại thành Hội Trường, sinh ở Hội Trường. Thật đáng buồn!
Tôi còn nhớ một chuyện xưa, có một thời tên làng, tên xóm đổi thành các địa danh hành chính: thôn Một, thôn Hai… thôn Mười. Vâng, trong quá trình phát triển, có lúc ta muốn tổ chức xã hội thành một quy củ thống nhất để xã hội cứ như một con tàu gọn gàng phăm phăm tiến về phía trước, một ý chí đáng trân trọng.
Song, hình như mỗi lựa chọn lại là một đánh rơi. Cho đến khi ta nhận ra rằng hành trình tiến về phía trước phải là hành trình văn hóa, thì những cái tên thời khai thiên lập địa lại trở về trong lựa chọn. Hạnh phúc biết bao! Hội Tường quê tôi còn nhắc hình ảnh cụ đồ Quyên râu tóc bạc phơ chống chiếc gậy trúc đứng trước cổng làng mà hân hoan tấm tắc: Hội Tường - Thật là một điềm lành!
Địa danh không chỉ là địa danh hành chính, mà còn là địa danh văn hóa. Nếu mỗi người con của quê hương hiểu sâu sắc những gửi gắm cha ông ẩn chứa trong mỗi tên đất tên làng, có lẽ họ sẽ yêu thêm quê hương mình, sẽ có những ứng xử tốt đẹp hơn, văn hóa hơn.
Tôi cứ đinh ninh rằng để có một tên làng tên xã, chắc tự xa xưa, những vị tiền hiền đã nhiều công phu suy nghĩ, từ người cao tuổi đến những bậc túc nho, nhiều đêm ngày trăn trở để nên một cái tên mà cả làng, cả xã ưng thuận nhất.
Và tên người cũng thế, các cụ kể rằng xưa để có một cái tên cho con, cha mẹ dù khó nghèo cũng biện con gà, ang nếp đến khép nép mà xin ở những người nhiều chữ, thường là những ông đồ, ông tú.
Và rồi khi về lại mời ông trưởng tộc dự bàn, cũng cỗ xôi, chén rượu. Khi cụ trưởng tộc xem xét cái tên đã đủ đẹp đủ hay chưa, đã phù hợp với gia tộc mình chưa, rồi mới thuận mà ghi vào phả hệ. Nên hiểu cái tên cha mẹ đặt cho mình, người ta sẽ hàm ơn cha mẹ mà nỗ lực hơn trong cuộc sống.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc đặt tên cho hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung, là khiêm cung ý tứ. Cụ Nguyễn Khuyến đặt tên con là Nguyễn Hoan, những mong đời con vui vẻ thuận thời. Vậy nên khi thấy quan tri huyện Nguyễn Hoan mãi đàn địch xướng ca mà quên bổn phận nam nhi, cụ buồn long than thở: “Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng/ Sao con đàn hát mãi say sưa? (Ngày xuân dạy các con).
Chương trình giáo dục phổ thông mới triển khai bộ môn giáo dục địa phương, nên chăng trong quá trình lên lớp, các giáo viên cũng lồng ghép đôi chút kiến thức đơn sơ này mà bổ túc cho các em, cần thiết lắm mà...
Đến hiện đại từ truyền thống là phương châm văn hóa. Muốn vậy, chúng ta phải hiểu cái truyền thống, từ những biểu hiện đơn sơ nhất, như những tên làng, tên núi, tên sông...
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nhung-ten-lang-ten-nui-ten-song-3326159.html











