Cô giáo thương yêu
Cái thời buổi mua sách bằng phiếu, mua báo phải xếp hàng ấy hình như cũng làm con người hay ho hơn bây giờ khi người ta rẻ rúng rất nhiều thứ thuộc về thế giới tinh thần.
Đến tuổi này của đời người, tôi vẫn có thói quen thỉnh thoảng qua khu phố cổ, đến Hàng Đường, nhìn mọi vật mọi người và vẫn cố tìm kiếm. Trong những con người không quen kia, ai có thể biết gì về cô? Cô giáo thương yêu của tôi. Những người rất già là những người tôi nhìn kỹ. Bởi vì nếu còn sống, cô cũng đã rất già.
Mùa hè trước chiến tranh phá hoại của Mỹ, mọi thứ yên tĩnh. Từ cây cối đến lối đi, con người đều chậm rãi. Nhưng vì còn nhỏ tuổi, tôi không nhìn thấy sự lo lắng của người lớn trước sự căng thẳng của cái gì đó báo hiệu bất thường, báo hiệu một thời đại không còn được sống bình yên… Tôi vô tư với những trò chơi, những cuốn sách đọc trộm của người lớn.

Phố Hàng Đường trong khu phố cổ Hà Nội ngày nay. Trước 1975 nhà cô giáo Như Bảo của tác giả từng ở phố này. Ảnh: Karlijn Meulman
Năm đó tôi vào học cấp ba. Ngôi trường ở miền Trung nhiều cây xanh, những cây sa mộc được trồng rất nhiều trong sân, và vô số hoa dại mọc len lỏi trên lối đi. Tôi phải vác gạo đi trọ học vì không có trường cấp ba gần nhà. Thị trấn có cái vẻ cổ kính từ những mái nhà thẫm đen vì thời gian, từ cái chợ họp vào ngày cuối tuần, và những con bò kéo xe chở nông sản từ quê ra… Tất cả đã biến mất ngày hôm nay khi đời sống tiêu dùng và công nghệ xóa đi những ký ức đẹp đẽ của một thời. Nhưng có nhiều điều ta không thể quên… Lũ học trò nông thôn ngơ ngác khi trông thấy rất đông thầy cô người Hà Nội vào miền Trung dạy học. Thời đó các thầy cô đem theo cả gia đình. Các thầy cô người miền Trung thì ra Hà Nội - theo sự phân công. Một cách luân chuyển để tạo ra vùng dân số như ngày hôm nay.
Và sáng thứ hai, một “nàng tiên” - chúng tôi nói với nhau như thế - bước vào lớp và chúng tôi đồng loạt đứng dậy. Cô giáo giơ tay, bàn tay tuyệt đẹp, ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Và nói:
- Cô tên là Như Bảo. Cô sẽ phụ trách môn văn của lớp ta.
Lúc đó tôi nhìn cô như bị thôi miên. Khuôn mặt tròn, bầu bĩnh, môi dưới hơi trễ xuống như nũng nịu, tóc ngắn, uốn quăn gấp nếp vào trong, áo sơ mi may kiểu Hồng Kông màu trắng. Cô thợ may gần chỗ tôi trọ học nói với tôi là kiểu áo này đang thịnh hành ở Hà Nội. Và những ai có điều kiện kinh tế, có gu mới mặc. Trước chiến tranh, Hà Nội đã như vậy. Các thiếu nữ mặc đẹp theo mốt ở các tạp chí đến từ các nước Đông Âu. Miền Bắc thời đó bao cấp nhưng không nghèo nàn, không bị phong tỏa gắt gao. Nhìn cô Như Bảo, tôi như nhìn thấy thành phố của cô…
Môn văn với tôi ngày đó thực sự là khó nhằn. Tôi rất sợ văn phân tích, văn bình luận. Đặc biệt là ngữ pháp. Cho đến ngày hôm nay khi đã bao năm trong nghề, tôi vẫn không nhớ nổi các thành phần trong một câu. Cô Như Bảo có vẻ không ưng một chút nào, bài tập cô chấm thường chỉ cho tôi điểm 3 trên 5. Cô lắc đầu: Sao đầu óc em kém thế? Không thể viết rõ ràng rành mạch một chút sao? Phải nghĩ đi chứ…
Một hôm tôi đang chúi đầu dưới hộc bàn đọc sách. Cuốn sách tôi mới mượn mẹ tôi - Chuông nguyện hồn ai của Hemingway. Cô đến bên mà tôi không biết. Tôi chờ một cơn giận… Nhưng cô lẳng lặng xem bìa cuốn sách và bảo tôi: Đến gặp cô sau nhé!
Cô ở trọ trong một ngôi nhà cũ kỹ, chủ nhà là người Huế chạy tản cư ra ngoài này và định cư luôn từ những năm sau hòa bình. Bà làm món bún bò Huế bán cho cư dân thị trấn, thủng thẳng làm vì ít người ăn, và cũng vì đắt hơn các món bình dân khác. Cô Như Bảo nhìn tôi một cách săn sóc: Cô mời em một bát bún nhé. Ăn với cô vì trưa nay cô chưa ăn gì.
Có lẽ đó là món ngon nhất tôi được ăn trong đời, được nấu từ bàn tay người Huế. Và được ngồi cùng cô, người Hà Nội chính gốc đang phải xa nhà đến vùng đất lạ… Và thủng thẳng những ngày sau, cô bảo tôi đến chơi với cô thường xuyên. Chỗ tôi trọ cũng gần nên tôi chẳng ngại. Cũng không còn ngại nữa khi cô không nhắc tới cái sự dốt ngữ pháp của tôi.
Cô hỏi: Sao em thích cuốn sách khó thế? - Em chỉ thấy… - tôi nói tới đó thì dừng vì không biết diễn đạt. Cô gật đầu nhìn tôi chăm chú: Sau này em cứ làm cái gì em thích! Tôi nghĩ có lẽ cô là người khơi dậy trong tôi ý thức làm một nghề mà mình say mê nhất: viết lách. Nhưng từ ngày đó đến khi trưởng thành là cả một chặng đường dài, qua các cuộc chia ly, qua cả chiến tranh khốc liệt, qua cả sự khắc khoải khi xa cô và xa mãi mãi.

Nhà văn Lê Minh Khuê trong chuyến đến Hàn Quốc tham dự Liên hoan Văn học Á - Phi. Năm 2008, bà là nhà văn Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng Văn học quốc tế Byeong-ju Lee của Hàn Quốc. Ảnh: CTV
Môn văn học ở lớp tôi ngày đó tràn ngập tiếng cười, và sự say mê yêu đời cô truyền cho chúng tôi không thể nào quên được. Cô đem vào lớp những tờ báo Văn Nghệ, những cuốn sách mới in mà người nhà ở Hà Nội gửi cho. Đó là những món quà quý, cái thời buổi mua sách bằng phiếu, mua báo phải xếp hàng ấy hình như cũng làm con người hay ho hơn bây giờ khi người ta rẻ rúng rất nhiều thứ thuộc về thế giới tinh thần. Vì nó sẵn quá. Vì nhiều thứ quá… Và con người thời đó khao khát hiểu biết hơn hôm nay. Có lẽ như vậy… Có những lúc cô buồn.
Cô nói với tôi ngôi nhà ở Hà Nội ngày xưa to rộng lắm. Nhưng bây giờ cả gia đình chỉ dồn vào một phòng lớn. Nhường nhà cho cơ quan. Cô kể cha cô vốn là chủ một chuỗi cửa hàng buôn lụa. Bây giờ ông là xã viên hợp tác xã may mặc của khu phố. Nhưng ông vẫn giữ nếp ngày xưa, mặc rất chỉnh tề và thích hút tẩu. Có lần ông bị phê phán trong buổi họp khu phố vì giữ nếp sống tiểu tư sản. Ông thay chiếc áo đại cán và bỏ tẩu thuốc…
Cứ thế, cô kể về tuổi thơ, về cha mẹ và tin cậy tôi như tin em gái. Tôi nhớ mãi kỷ niệm cô cho cả lớp tập viết văn. Ngày đó tôi nghĩ nhà văn phải rất khác người. Ví dụ ông nào cũng đội mũ phớt đi giày mũi nhọn. Ông nào cũng trầm ngâm hiền triết. Cô Như Bảo phì cười. Nghĩ gì lạ vậy, họ cũng bình thường thôi mà… Thử viết đi xem nào? Và cô ra đầu bài: Một ông già đi bộ qua làng nọ. Trời tối. Ông nhìn thấy đầu làng có một ngôi nhà vắng vẻ. Ông tới xin ngủ lại…
Viết về ngôi nhà đó xem nào! Cô bảo. Cả lớp sững sờ rồi bùng lên phấn khích. Muôn vàn những ý tưởng kỳ lạ về ngôi nhà. Người thì gặp ma. Người thì bị thôi miên. Người vướng vào quan hệ không thể dứt bỏ cả đời… Nhiều đứa bỏ vì không viết được. Chỉ còn chục đứa viết và cô đọc hết. Vừa đọc vừa cười. Tôi viết về ngôi nhà có bà mẹ và hai đứa trẻ. Họ cho ăn và đang đêm ngôi nhà bốc cháy… Đại loại thế. Cô bảo tôi, em không có trí tưởng tượng. Một câu chuyện như thế mà kể chân phương thật thà. Chả có gì thú vị…
Cô không dội gáo nước lạnh vào tôi. Cô như “khích tướng”, tôi đoán thế qua cái nhìn của cô… Một năm học thực sự thú vị đi qua. Tôi nói với cô: Em không học nữa cô ạ. Em muốn nhập ngũ như mấy bạn trong lớp… Cô đột nhiên ôm tôi, vỗ vai như người chị: Khốc liệt đấy em ạ. Cố giữ mình! Lúc đó máy bay Mỹ bắt đầu dội bom xuống những nơi có cầu, có nhà ngói đỏ. Trường học cũng là mục tiêu. Chúng tôi phải chuyển học đêm rồi đêm cũng không được vì không thể thắp đèn. Đột nhiên cô không đến lớp nữa. Cô viết cho tôi vài chữ: “Cô phải về Hà Nội. Có rắc rối trong nhà cô cần về giúp cha mẹ. Sẽ gặp lại nhé!”.
Tháng sau tôi đi Thanh niên xung phong. Cả lớp cũng không còn đông đủ vì ghi tên đi bộ đội phần lớn. Chúng tôi mới 15 tuổi. Chiến tranh đã đến rồi! Không bao giờ được gặp lại cô nữa. Khi về Hà Nội làm việc, tôi đi tìm cô. Tôi không ghi địa chỉ cụ thể của cô. Tôi đi loanh quanh khu phố mà cô nói với tôi thời ấy và cố nhìn vào những người đàn bà dáng dấp Hà Nội xưa. Mà không thấy được nữa.
Bây giờ tôi vẫn muốn tìm thấy cô. Cô Như Bảo. Cô giáo thương yêu của tôi…
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/co-giao-thuong-yeu-51708.html












