Những trận đánh không bao giờ phai trong ký ức người lính
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ mùa hè đỏ lửa năm 1972 trên chiến trường Quảng Trị, nhưng với những cựu chiến binh từng trực tiếp cầm súng chiến đấu, ký ức về những trận đánh ác liệt vẫn còn nguyên vẹn. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát và một sự hy sinh không thể nào quên.
Ông Vũ Chế, quê ở Đại Từ, Thái Nguyên, nguyên chiến sĩ C10, D3, E9, F304, vẫn không thể quên trận chiến giữ điểm cao 108, huyện Hải Lăng ngày 13/10/1972. Thời điểm đó, tổ của ông được giao chốt giữ điểm cao 108, phối hợp với lực lượng ở điểm cao 138 nhằm bảo vệ khu vực các điểm cao 367 và 378. Sau một tuần liên tục chiến đấu, đơn vị đã nhiều lần đẩy lùi các đợt tiến công của đối phương. Biết chắc đối phương sẽ dốc toàn lực đánh chiếm điểm cao, tổ trưởng Lê Văn Mến luôn động viên anh em củng cố công sự, chuẩn bị sẵn sàng cho trận quyết chiến. Tất cả đều xác định sẵn sàng hy sinh để giữ chốt.

Với những cựu chiến binh từng trực tiếp cầm súng chiến đấu, ký ức về những trận đánh ác liệt vẫn còn nguyên vẹn - Ảnh: V.V.H
Khoảng hơn 7 giờ sáng ngày 13/10/1972, hàng trăm quả pháo dội xuống trận địa theo chiến thuật “tiền pháo, hậu xung”, địch tràn lên. Chờ chúng đến thật gần, các chiến sĩ đồng loạt nổ súng khiến hàng chục tên gục ngã. Tuy nhiên, sau khi rút ra củng cố đội hình, đối phương tiếp tục pháo kích dữ dội rồi mở thêm nhiều đợt tiến công. Quân số của tổ ngày càng hao hụt. Khi chỉ còn ba người có thể chiến đấu, tổ trưởng Lê Văn Mến lệnh cho mọi người rút về hầm chỉ huy cố thủ. Đến sát cửa hầm, ông Mến bị trúng đạn gãy cả hai chân. Ông Vũ Chế lao tới định kéo chỉ huy vào hầm nhưng ông Mến xua tay, trao lại tập tài liệu mang theo và ra lệnh rút ngay. Chấp hành mệnh lệnh trong thời khắc đau thương nhất, ông Vũ Chế thoát khỏi trận địa giữa làn đạn AR15. Khi trở về đơn vị, ông là người duy nhất còn sống trong tổ chiến đấu hôm ấy.
Cũng mang theo ký ức không thể phai mờ là ông Bùi Xuân Lộc, quê Thạch Thành, Thanh Hóa, chiến sĩ C9, D6, E88, F308. Đối với ông, trận đánh cầu Câu Nhi (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cũ) ngày 26/5/1972 là ký ức đau thương nhất của cuộc đời binh nghiệp. Đêm 25/5/1972, đơn vị nhận nhiệm vụ đánh chiếm cầu Câu Nhi. Lực lượng được chia thành ba mũi tiến công. Khi còn cách mục tiêu khoảng 30m, một quả mìn pháo sáng bất ngờ phát nổ, làm lộ toàn bộ đội hình. Ngay lập tức, đối phương tập trung hỏa lực bắn xối xả. Đồng đội hy sinh gần hết, còn ông Lộc bị thương nặng ở chân. Máu chảy nhiều, ông cố lết vào bụi tre ven sông để ẩn náu. Suốt ba ngày nằm giữa chiến trường, ông vừa chịu đói khát, vừa chứng kiến đồng đội nằm lại ngay bên cạnh. Đêm thứ ba, ông quyết định bò đi tìm đường sống. Có lúc kiệt sức ngất lịm, khi tỉnh dậy giữa cánh đồng lúa chín, ông phải nhai những bông lúa non, uống nước tiểu để cầm hơi. Mười hai ngày sau, ông bò được đến khu vực đồi Mâm Xôi, cách Hồ Lầy khoảng 3km thì tiếp tục kiệt sức. Tỉnh dậy, ông hái những quả sim rừng ăn chống đói. Trong lúc mê man, ông nghe tiếng người và hy vọng gặp đồng đội, nhưng đó lại là một tốp lính đối phương. Ông bị bắt làm tù binh và bị đưa ra Côn Đảo giam giữ cho đến năm 1973 mới được trao trả.
Đối với ông Nguyễn Ton, quê huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cũ (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), nguyên chiến sĩ C20, F304, ký ức sâu đậm nhất là trận trinh sát tại thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ ngày 25/10/1972. Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt tại động Ông Do, tiểu đội của ông được giao nhiệm vụ bí mật trinh sát Chi khu quân sự Hải Lăng. Đêm 24/10, cả đơn vị hành quân gần 20km theo khe suối để tránh lộ đội hình. Tiếp cận Diên Sanh, các chiến sĩ chia thành 2 tổ. Một tổ ẩn trong cống thoát nước, tổ còn lại bí mật vào một ngôi nhà lớn ven đường để quan sát. Đến sáng hôm sau mới biết đó là nhà thờ của một dòng họ trong làng. Từ đây, các chiến sĩ thay nhau quan sát hoạt động của đối phương.
Khoảng 15 giờ ngày 25/10, lính tuần tra phát hiện ba lô của đơn vị cất giấu bên lũy tre và lập tức bao vây. Trước tình thế hiểm nghèo, chỉ huy bình tĩnh động viên anh em chiến đấu cầm cự, chờ trời tối tìm đường rút. Mặc cho đối phương nhiều lần kêu gọi đầu hàng, tất cả đều thống nhất chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Lợi dụng bức tường dày của ngôi nhà, các chiến sĩ đánh trả quyết liệt, khiến nhiều đợt tấn công của đối phương thất bại. Khi công sự bị hỏa lực bắn phá gần như tan nát, anh em buộc phải lao ra bám lũy tre tiếp tục chiến đấu. Đến chập tối, hỏa lực đối phương càng lúc càng dày đặc. Khi tiếng súng của đồng đội thưa dần, ông Nguyễn Ton quyết định vùi mình trong giao thông hào dưới bùn để tránh bị phát hiện. Nằm bất động nhiều giờ, đến gần 3 giờ sáng hôm sau, khi đối phương rút quân, ông mới lặng lẽ bò ra. Ban ngày, ông phải vùi mình dưới cát trắng, nhịn đói, nhịn khát để tránh bị phát hiện; đêm xuống mới tiếp tục tìm đường trở về đơn vị.
Ba câu chuyện, ba trận đánh, ba số phận khác nhau nhưng đều phản ánh sự khốc liệt của chiến trường Quảng Trị năm 1972. Trong bom đạn, những người lính đã chiến đấu bằng lòng quả cảm, tình đồng đội và niềm tin vào ngày chiến thắng.
Chiến tranh đã lùi xa, nhiều đồng đội của họ mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Quảng Trị. Những người còn sống trở về vẫn mang trong mình ký ức không thể phai mờ về những trận đánh sinh tử, về những người chỉ huy quả cảm và những đồng đội đã ngã xuống. Những câu chuyện ấy là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.












