Những trăn trở về đồng đội của người lính trinh sát năm xưa

Những dòng hồi ức về 6 năm chiến đấu ở chiến trường Tây Nam Bộ của ông Nguyễn Anh Bé, nguyên chính trị viên Đại đội trinh sát K21, trung đoàn 2, sư đoàn 4, Quân khu 9.

Bức ảnh kỉ niệm cuộc trò chuyện giữa phóng viên với ông Nguyễn Anh Bé, nguyên chính trị viên Đại đội trinh sát K21, trung đoàn 2, sư đoàn 4, Quân khu 9.

Bức ảnh kỉ niệm cuộc trò chuyện giữa phóng viên với ông Nguyễn Anh Bé, nguyên chính trị viên Đại đội trinh sát K21, trung đoàn 2, sư đoàn 4, Quân khu 9.

Sau vài dịp phóng viên chúng tôi về thăm ông Bé tại một góc vườn xinh xắn, những cuộc trò chuyện thân mật dần gợi mở ký ức của người chiến sĩ năm xưa, điều ngạc nhiên là ông Bé không hề nhắc đến bản thân mình trong các câu chuyện đó, ông luôn tâm niệm, bản thân mình cũng thật nhỏ bé, những hy sinh cống hiến đó cũng thật bé nhỏ so với mất mát đau thương của đồng đội, của những Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, của những điều hiện vẫn còn nằm im, sâu thẳm trong đất và trong nước.

Ảnh minh họa từ ga Tiền Trung, Đường Trường Sơn đến chiến trường Cần Thơ, Cà Mau năm xưa.

Ảnh minh họa từ ga Tiền Trung, Đường Trường Sơn đến chiến trường Cần Thơ, Cà Mau năm xưa.

Cuộc đời 6 năm trong màu áo lính được ông Bé, người cựu chiến binh quê huyện Gia Lộc, Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) đúc kết lại trong những trang hồi ức mang tiêu đề “Từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cứu Long”, với mục đích, nhằm: “Ít nhất để con cháu hiểu được những đóng góp của những người lính năm xưa một thời đánh Mỹ, một thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Những hồi ức của ông Bé bắt đầu bằng cuộc chia tay ở ga Tiền Trung (tỉnh Hải Dương cũ, nay là thành phố Hải Phòng) một chiều đông, tháng 12/1971, sau quá trình huấn luyện tân binh ở Tiểu đoàn 640, để lên đường vào Nam chiến đấu. Đó là cảm giác của một cậu thanh niên nông thôn lần đầu tiên được ngồi tàu hoả, mà ông ghi lại “cảm giác không quen, không ngủ được”.

Đó là cảm giác vượt Trường Sơn trong đội hình đoàn 2033 mà đến khi đã già, nghĩ lại ông vẫn thấy thán phục những đồng đội của mình: “Tôi thấy ở người lính chúng tôi có một sức mạnh phi thường, một sự chịu đựng ghê gớm, chúng tôi lúc ấy chỉ mới mười chín, hai mươi, tuổi ăn, tuổi ngủ, thế mà chúng tôi vẫn vô tư lăn xả vào mặ trận không hề nghĩ đến hy sinh hay hiểm nguy vất vả”.

Cuộc hành quân phải vượt qua biết bao bom đạn, đầy rẫy chết chóc. Đó là những cơn sốt rét đeo đẳng dọc đường: “Đơn vị phải gửi lại đường dây những đồng chí bị sốt rét, có cả đồng chí đại đội trưởng cũng bị sốt rét phải ở lại bệnh viện. Nếu ai bị sốt rét ác tính thì cầm chắc cái chết không thể tránh được”. Đó là những trận bom từ không quân Mỹ dội xuống đường 559. Đó cũng có khi là những tai nạn vô cùng bất ngờ, nhưng vẫn có thể dễ dàng lấy đi mạng sống của những người lính trẻ:

“Một hôm đang hành quân thì được lệnh nghỉ giải lao, phần thì mệt và đói, nên có anh đã chạy xuống mé rừng lấy rau tàu bay và chặt cây chuối rừng để ăn. Khi chặt cây chuối có một quả bom bi nhỏ mắc trên đó. Bom bi rơi xuống phát nổ làm một đồng chí hy sinh tại chỗ, một đồng chí tàn phế, một đồng chí bị thương nhẹ”, tập hồi ức kể lại.

Cũng có những cuộc hội ngộ bất ngờ, đầy cảm xúc trên đường hành quân:

“Đang trên đường hành quân vào thì gặp anh Dĩnh, người cùng làng đi ra Bắc học, tôi mừng quá ghi mấy chữ gửi về cho bố mẹ báo con đang trên đường Trường Sơn vào Nam. Trong túi còn mấy chục đồng tiền miền Bắc, tôi cho anh ấy để ra Bắc tiêu. Anh em chỉ gặp nhau khoảng 5 phút, xong người ra Bắc, người vào Nam thật bịn rịn chia tay”.

Nếu không có những dòng ký ức của ông Bé, thế hệ ngày nay có thể sẽ không biết rằng, sau khi vượt dãy Trường Sơn, đi qua đất bạn Lào và Campuchia, khi những người chiến sĩ giải phóng vượt sông Vĩnh Tế để vào đất Việt cũng rất nguy hiểm, nên bộ đội vẫn gọi là sông “Vĩnh Biệt”. Bởi bên sông, đối phương canh phòng rất cẩn mật, thường xuyên phục kích, bắn đại liên vào đội hình bộ đội vượt sông, có đoàn đã bị thương vong rất nhiều.

Sau khi vượt sông Ngang Dừa, ông Bé bắt đầu được biên chế vào đại đội trinh sát của trung đoàn Lộc Ninh (E2), đơn vị đứng chân trong đội hình sư đoán Hậu Giang (F4), thuộc Quân khu 9. Ông kể lại chi tiết trận đánh đầu tiên mà ông tham gia, đó là trận đánh đồn nhà lầu Phước Long ngày 10/6/1972. “Trận đánh không thành công vì bị lộ, anh Huấn quê Chí Linh chết, chúng tôi đưa xác anh về cho du kích chôn”.

Các trận đánh sau đó, ông Bé đều nhớ về những người đồng đội đã hy sinh: “Tháng 7 năm 1972 chúng tôi đánh đồn kênh Ba Biến Bạch, Cà Mau. Trận này không thắng, có anh Định quê Thái Bình, anh Oanh quê Hà Bắc, anh Lim quê Thanh Hoá chết, bị thương một số người”.

Kiến trúc sư Kiến Lâm - chuyên gia kiến trúc đô thị, vừa trở về sau thời gian lưu trú và học tập tại Masters' Houses - Bauhaus, Dessau, Đức đã xúc động khi cầm trên tay cuốn hồi ký quý giá của người chiến sĩ năm xưa Nguyễn Anh Bé.

Kiến trúc sư Kiến Lâm - chuyên gia kiến trúc đô thị, vừa trở về sau thời gian lưu trú và học tập tại Masters' Houses - Bauhaus, Dessau, Đức đã xúc động khi cầm trên tay cuốn hồi ký quý giá của người chiến sĩ năm xưa Nguyễn Anh Bé.

Trên chiến trường Cần Thơ, ông Bé kể lại cảm giác vui mừng khi được gặp người bạn học cùng cấp 3 Gia Lộc, là ông Gầy, người xã Gia Hoà, Gia Lộc, Hải Dương. Hai ông cùng tốt nghiệp phổ thông năm 1970, cùng đi bộ đội, cùng đi Nam đến kênh Tây Ký thì mỗi người về một đơn vị, ông Bé về trinh sát, ông Gầy về đặc công. Đến trận đánh đồn Phương Bình 2, tại Vị Thanh, Cần Thơ đêm 24/12/1972, trung đoàn điều 4 chiến sĩ trinh sát sang phối hợp với đại đội 16, tiểu đoàn đặc công (D19) để cùng đánh đồn, ông Bé mới có cơ hội được gặp lại người bạn cũ.

“Hai anh em ngồi trên hai xuồng chờ giờ tiếp cận đồn”, ông kể lại. “Chúng tôi nói chuyện với nhau, lúc này nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ bạn học, rồi trao đổi với nhau về cách cắt rào, chui rào, bật tường vào bốt, ném bộc phá, bắn vào bốt của chúng, tất cả đều phải nhanh, nếu thấy không thắng thì tìm cách ra ngay, chần chừ là chết”.

Tuy nhiên, vào trận đánh, bộ đội không cắt được rào vì ngỗng của địch nuôi kêu ing ỏi, nên bị lộ. Đến giờ nổ súng, buộc đại đội trưởng phải ra lệnh chạy vào cửa mở. Dưới ánh pháo sáng, địch phát hiện được cho mìn nổ. Mũi của ông Bé có 9 người thì 5 người hy sinh, trong đó có ông Gầy, người bạn học mà ông Bé vừa mới tâm sự lúc chiều tối.

Trận đánh đồn đầu cầu, chi khu nhà ngang, Vĩnh Thuận, Gò Quao, cũng khắc ghi trong trí nhớ ông Bé về tình đồng đội. Đêm ngày 24/5/1974, khi vào trinh sát, một mũi bị lộ, bị mìn nổ, địch bắn ra như mưa. “Anh Lộ, quê Hà Nam hy sinh, chúng tôi phải đưa ra. Đến 22h, chúng tôi điện cho trung đoàn bộ xin ngừng đánh vì đã bị lộ. Nếu đánh mật tập mà bị lộ thì chắc chắn là thua, nhưng trung đoàn thông báo là phải tiếp tục đánh vì đã hợp đồng tác chiến với đơn vị đặc công đánh chi khu nhà ngang, nếu ngừng đánh thì hỏng việc của đơn vị bạn”.

Vì đã cảnh giác, đêm ấy phía đối phương không ngủ, bật đèn sáng, pháo sáng bắn rực cả bầu trời, bộ đội không cắt rào được, phải dùng mìn định hướng, DH20 phá rào, nhưng bị địch bắn ra mãnh liệt, từ M79, AR15, cối 60mm, tiểu liên vào đúng đội hình.

“Anh Thuỷ chết, rồi bị thương một loạt. Đại đội trưởng, chính trị viên và nhiều đồng chí nữa, trong đó có anh Chiện quê Đồng Quang, Gia Lộc bị mù 2 mắt. Anh Hồng quê Hà Nam bị mất hàm dưới, anh Bộ quê Thái Bình y tá bị thương nặng, còn lại những người bị thương nhẹ, người nguyên vẹn phải đưa thương binh, liệt sĩ ra”.

Trận đó, đại đội ông phải chờ quân miền Bắc vào bổ sung mới đủ người để chiến đấu. “Đó là những trận tôi nhớ, còn nhiều trận nữa tôi không nhớ hết”, ông viết.

Trong quá trình trưởng thành từ chiến đấu, ông Bé lần lượt được thăng chức từ trung đội phó, trung đội trưởng, rồi đến tháng 12/1974, ông được phong chức Chính trị viên Đại đội trinh sát.

Cho đến tận những ngày đầu năm 1975, đơn vị ông Bé vẫn phải liên tục đối mặt với những mất mát, hy sinh, bản thân ông vẫn nhớ rõ về những trường hợp đồng đội ngã xuống. Đó là trận đánh chi khu Vịnh Trèo, tháng 2/1975, trận đó ông nhớ: “Có anh Quảng, đại đội trưởng đặc công, trước ở trinh sát cùng tôi, hy sinh không lấy được xác”.

Rồi tháng 3/1975: “Lại đánh lên chi khu Vị Thanh, ban ngày chúng bắn pháo, ném bom, một quả bom rơi cách hầm của chúng tôi 10m làm rung chuyển hầm. Đại đội tôi có anh Hồng quê Nam Định bị cụt mất cánh tay”. Đơn vị ông đã chiến đấu chống trả anh dũng, khi đối phương lùi ra, chúng gọi pháo binh, đại liên bắn mạnh về phía quân ta, lại thêm “anh Hai đại đội phó, quê tỉnh Sóc Trăng bị hy sinh”.

Ngày 28/4/1975, đơn vị ông tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, với tinh thần sẽ đánh trận quyết định để giành thắng lợi hoàn toàn. Đơn vị hành quân khẩn từ xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá, bao vây sân bay Trà Nóc ở Cần Thơ suốt từ ngày 29/4 đến sáng 30/4/1975, chỉ ăn gạo rang lấy sức chứ không nấu được cơm. Đến trưa hôm đó, khi Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân giải phóng, đơn vị ông liền vào chiếm sân bay, rồi những ngày sau đó làm nhiệm vụ quân quản.

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ quốc cao cả, cùng với các lực lượng vũ trang, nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, hồi sinh Vương quốc Campuchia. Trong đó, nhiều chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam là người con của quê hương Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) tham gia với lòng dũng cảm, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ quốc cao cả, cùng với các lực lượng vũ trang, nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, hồi sinh Vương quốc Campuchia. Trong đó, nhiều chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam là người con của quê hương Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) tham gia với lòng dũng cảm, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Dù đất nước đã giải phóng, nhưng với ông Bé và đồng đội, vẫn chưa hết những ngày gian khó. Tháng 6/1975, đơn vị ông tiến sang Campuchia đánh bọn Pol Pot và tàn quân Sài Gòn, bị chúng chống trả quyết liệt. Ông nhắc lại hoàn cảnh thương tâm của người bạn tên Hùng, quê ở Thái Bình, hy sinh trong dịp này. “Chúng tôi bóc thư gia đình Hùng gửi sang đọc. Thư nói bố mẹ, các anh chị em đều phấn khởi biết anh còn sống, chờ anh trở về. Thế mà anh lại đã chết, thật đau buồn cho anh và gia đình anh”.

Tháng 3/1976, do sức khoẻ yếu, là thương binh hạng ¼, ông Bé được đơn vị cho ra miền Bắc, sau đó phục viên về phát triển kinh tế gia đình. Hiện ông và gia đình sinh sống ở phố Hàm Nghi, phường Tân Hưng, thành phố Hải Phòng.

Sau 50 năm giã từ màu áo lính, người lính trinh sát năm xưa không kể gì về bản thân, mà vẫn đau đáu nhớ về đồng đội. Ông tâm sự qua những trang viết: “Vẫn còn những đồng đội đã hy sinh đến giờ phút này không biết nằm ở đâu, gia đình họ muốn tìm đưa hài cốt về nhưng không được. Còn những đồng chí thương binh tàn phế, nhiễm chất độc da cam, con cháu họ bị ảnh hưởng… cuộc sống khổ cực và thiệt thòi”. Ông vẫn mong mỏi những người đồng đội năm xưa và gia đình sẽ nhận được những sự bù đắp xứng đáng, để phần nào yên lòng những người đã ngã xuống vì đất nước.

Còn cá nhân ông, ông Bé viết hồi ký như để khỏa lấp tình đồng đội khi xưa, trút vơi những ký ức in hằn trong trí nhớ, ký ức đó vẫn mạnh mẽ vẹn nguyên cho đến tận hôm nay, khi đôi chân đã mỏi, bàn tay run run từng cơn, nhưng ánh mắt cương nghị và chất chứa đầy yêu thương, yêu cuộc sống.

Thế Kiên

Nguồn Điện tử & Ứng dụng: https://dientuungdung.vn/nhung-tran-tro-ve-dong-doi-cua-nguoi-linh-trinh-sat-nam-xua-18048.html