Những trường hợp nào được nghỉ hưu trước tuổi trong năm 2026?

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 và Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, một số nhóm người lao động có thể nghỉ hưu trước tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Tuy nhiên, điều kiện về thời gian đóng BHXH, tính chất công việc, nơi làm việc và mức suy giảm khả năng lao động được quy định khác nhau đối với từng trường hợp.

Có thể nghỉ hưu trước tuổi tối đa 5-10 năm

Theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, năm 2026, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường đối với lao động nam là 61 tuổi 6 tháng, đối với lao động nữ là 57 tuổi.Như vậy, người thuộc diện được nghỉ hưu trước tuổi tối đa 5 năm có thể nghỉ ở tuổi 56 tuổi 6 tháng đối với nam và 52 tuổi đối với nữ. Với trường hợp được nghỉ thấp hơn tối đa 10 tuổi, tuổi tương ứng là 51 tuổi 6 tháng đối với nam và 47 tuổi đối với nữ.

Theo Điều 64 và Điều 65 Luật BHXH 2024, số 41/2024/QH15, người lao động có thể nghỉ hưu trước tuổi nếu đáp ứng các điều kiện sau:

Theo đó, người lao động được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường nếu có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên và thuộc một trong hai nhóm.

Thứ nhất là người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.

Thứ hai là người làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc tại nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021.

Hình minh họa

Hình minh họa

Trường hợp làm công việc khai thác than trong hầm lò, người lao động được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường nếu có từ đủ 15 năm trở lên làm công việc này.

Ngoài ra, người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên cũng thuộc trường hợp được nghỉ hưu trước tuổi theo quy định.

Theo Điều 65 Luật BHXH 2024, người lao động nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động phải có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên.

Người lao động được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu có tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%.

Trường hợp tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Đối người thuộc lực lượng vũ trang, cơ yếu và dân quân thường trực điều kiện nghỉ việc để hưởng lương hưu là có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc và thuộc một trong các trường hợp luật định.

Nhóm này có thể nghỉ hưu khi tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

Nếu có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, người lao động phải có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Riêng người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao thì không quy định điều kiện về tuổi nghỉ hưu.

Nghỉ hưu trước tuổi có bị giảm lương hưu?

Đây là vấn đề được nhiều người lao động quan tâm khi tính toán thời điểm nghỉ hưu.

Theo quy định, việc nghỉ hưu trước tuổi có bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu hay không phụ thuộc vào căn cứ nghỉ hưu.

Đối với người nghỉ hưu trước tuổi theo Điều 64 Luật BHXH năm 2024, tỷ lệ hưởng lương hưu được xác định dựa trên thời gian đóng BHXH và không bị giảm tỷ lệ chỉ vì nghỉ hưu trước tuổi.

Trong khi đó, người nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động theo Điều 65 sẽ bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu theo thời gian nghỉ trước tuổi. Mức giảm thông thường là 2% cho mỗi năm, cùng quy định xử lý đối với thời gian lẻ theo tháng.

Do đó, trước khi quyết định nghỉ hưu, người lao động cần xác định chính xác mình thuộc trường hợp nào, thời gian đã đóng BHXH, tuổi nghỉ hưu theo quy định và điều kiện về nghề nghiệp, nơi làm việc hoặc mức suy giảm khả năng lao động.

Việc xác định đúng căn cứ nghỉ hưu không chỉ giúp người lao động chủ động lựa chọn thời điểm nghỉ việc mà còn tính toán được mức lương hưu dự kiến và tránh ảnh hưởng không cần thiết đến quyền lợi BHXH về lâu dài.

Khanh Lê

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nhung-truong-hop-nao-duoc-nghi-huu-truoc-tuoi-trong-nam-2026.html