Nỗi niềm con gái không có chỗ thờ cha mẹ ruột trong nhà

Có những nỗi đau trong hôn nhân không bắt đầu từ cơm áo, tiền bạc hay những xung đột lớn, mà từ một điều rất sâu kín: nỗi day dứt của người con khi cha mẹ qua đời mà trong chính mái nhà mình đang sống lại không có một nơi để thắp nén hương tưởng nhớ. Đằng sau câu chuyện 'có được thờ cha mẹ ruột ở nhà chồng hay không' không chỉ là va chạm phong tục, mà còn là câu hỏi về lòng hiếu thảo, sự sẻ chia giữa vợ chồng và cách một gia đình ứng xử với những giá trị thiêng liêng của đời sống tinh thần.

Nếu thuận vợ chồng thì việc thờ cúng cả cha mẹ hai bên là điều hiếu thuận nên làm

Nếu thuận vợ chồng thì việc thờ cúng cả cha mẹ hai bên là điều hiếu thuận nên làm

Nỗi đau của người con một: Khi cha mẹ mất mà không có nơi nương khói hương

Người phụ nữ ở Bắc Ninh tìm đến chúng tôi bằng một giọng kể bình tĩnh, nhưng càng nghe càng thấy ở đó là một nỗi đau đã bị nén xuống quá lâu. Chị lấy chồng đã 9 năm, có một con gái nhỏ. Gia đình chồng không khá giả, bố chồng đã mất từ trước, còn bố mẹ đẻ của chị vốn là người làm ăn, tằn tiện, yêu thương con và dành gần như tất cả những gì mình có để vun vén cho cô con gái duy nhất.
Vì là con một, chị được cha mẹ chăm lo rất nhiều. Khi vợ chồng mua nhà trên thành phố, bố mẹ chị dốc sức hỗ trợ. Khi hai vợ chồng làm ăn, ông bà cũng phụ thêm vốn liếng. Trong ký ức của chị, bố mẹ không chỉ là điểm tựa vật chất mà còn là chỗ dựa tình cảm lớn nhất. Ông bà sống hiền lành, thương con, thương cháu, chưa từng so đo điều gì với nhà thông gia. Chính vì thế, những năm đầu hôn nhân của chị trôi qua khá êm ấm.

Nhưng đời sống vốn không đi theo một đường thẳng. Việc kinh doanh của bố mẹ chị gặp biến cố lớn, bị lừa, tài sản tiêu tán, nhà cửa phải bán đi để trả nợ. Từ chỗ là người từng chắt chiu gom góp cho con, ông bà rơi vào cảnh trắng tay.

Giữa cơn khốn khó, bố chị có ngỏ ý với con rể và gia đình thông gia rằng nếu thuận tiện, cho ông bà về ở cùng với vợ chồng con gái một thời gian, vừa có con có cháu đỡ đần, vừa cùng nhau gượng dậy sau biến cố. Thế nhưng cú sốc quá lớn khiến tinh thần ông bà suy sụp nhanh chóng. Chỉ trong vài năm, cả hai lần lượt qua đời.

“Bố mẹ tôi đã mất rồi, tôi không thể chăm sóc thêm được nữa. Điều duy nhất tôi còn làm được là giữ cho ông bà một chỗ ở trong ký ức gia đình mình, một chỗ để con cháu biết mà nhớ, mà thắp nén nhang. Vậy mà chồng tôi và gia đình chồng lại không đồng ý. Tôi thực sự không biết phải làm thế nào”, người phụ nữ chia sẻ.

Câu chuyện ấy nghe qua tưởng như chỉ là mâu thuẫn riêng của một gia đình. Nhưng càng đi sâu, càng thấy đây là một vấn đề không hiếm gặp trong đời sống hiện đại: khi nếp nhà cũ, quan niệm cũ va chạm với những thực tế rất mới - con một, con gái duy nhất, gia đình ít con, nhà ở đô thị chật hẹp, đời sống hôn nhân nhiều áp lực và những mất mát tinh thần không dễ nói thành lời.

Một người phụ nữ khác ở Hà Nội chia sẻ với chúng tôi câu chuyện của mình trong hoàn cảnh còn éo le hơn. Chị là người tái hôn. Khi về sống với chồng, trên bàn thờ gia đình nhà anh đã có bát hương thờ bố chồng và cả người vợ cũ của chồng. Sau khi kết hôn, chồng chị chủ động mang bát hương thờ bố mẹ chị về nhà, đặt chung lên bàn thờ gia đình. Hành động ấy từng khiến chị xúc động, bởi chị nghĩ mình đã gặp được một người đàn ông hiểu và thương mình, hiểu cả nỗi lòng của người con gái đối với cha mẹ đã khuất.
Thế nhưng sự yên lòng ấy không kéo dài. Sau khoảng một năm, mẹ chồng và con riêng của chồng bắt đầu có ý kiến. Họ cho rằng một bàn thờ không thể cùng lúc thờ bố chồng, bố mẹ vợ, lại thêm bát hương thờ người vợ trước. Những lời ra vào, những cái lắc đầu, những câu nhắc khéo rồi nhắc thẳng khiến không khí gia đình trở nên ngột ngạt. Người phụ nữ ấy đề nghị một giải pháp dung hòa: lập một bàn thờ khác, riêng, gọn gàng ở một góc nhà để thờ bố mẹ đẻ của mình. Nhưng đề nghị ấy cũng bị từ chối.
“Tôi chỉ muốn có một chỗ nhỏ để thờ cha mẹ mình thôi”, chị nói. “Tôi không tranh vị trí, không so bì hơn thiệt với ai. Tôi chỉ muốn được làm con một cách tử tế”.
Bế tắc, chị từng nghĩ đến chuyện đi thuê một nơi ở riêng chỉ để đặt bát hương của bố mẹ, có thể là một căn phòng nhỏ, một chỗ chốn yên tĩnh để hương khói cho đàng hoàng. Nhưng khi nghe vợ nói vậy, chồng chị phản đối dữ dội. Anh cho rằng vợ chồng đang sống với nhau mà vợ đi thuê nhà riêng chỉ để đặt bát hương thì “mang tiếng”, khiến thiên hạ dị nghị, gia đình thêm rạn nứt. Anh nhất quyết không đồng ý.
Điều khiến người phụ nữ này đau hơn cả là hoàn cảnh của gia đình mình. Chị là con út. Anh trai ở nước ngoài. Bát hương của bố mẹ chị không chỉ là bát hương riêng của hai cụ, mà còn gắn với vai trò thờ tự của dòng họ, bởi bố chị là con trưởng.

Cuối cùng, trong thế không còn lựa chọn, chị đành gửi bát hương ấy về nhà chú ruột. Các em và người thím đều ủng hộ, sẵn lòng chăm nom hương khói. Về lý, có thể đó là một cách giải quyết. Nhưng về tình, chị vẫn thấy tim mình đau nhói.

“Tôi biết gửi ở nhà chú là hợp lý trong hoàn cảnh này. Nhưng nỗi đau của một người có cha mẹ mà không được lập bát hương thờ trong chính mái nhà của mình thì vẫn không nguôi. Nhiều khi sống giữa chồng con mà tôi vẫn thấy có một góc nào đó trong lòng mình không yên, như thể mình còn mắc nợ cha mẹ”, chị nói.

Từ hai câu chuyện ấy có thể thấy, điều khiến người phụ nữ khổ tâm không chỉ là chuyện cái bàn thờ đặt ở đâu, bát hương để chỗ nào. Sâu xa hơn, đó là cảm giác phần gốc rễ thiêng liêng nhất của mình không được đón nhận trong gia đình mà mình đang chung sống. Một người vợ có thể chấp nhận nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, nhưng rất khó nguôi ngoai nếu bị buộc phải gác bỏ đạo hiếu với cha mẹ mình sau khi cha mẹ qua đời.

Trong nhiều gia đình Việt, bàn thờ là không gian đặc biệt. Đó không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn là chỗ neo giữ ký ức, gia phong và đạo lý. Nhưng cũng vì tính đặc biệt ấy, câu chuyện thờ cúng nhiều khi bị nhìn bằng những quan niệm quá cứng nhắc: nhà chồng là nơi chỉ thờ tổ tiên bên chồng; con gái đi lấy chồng là “theo chồng”, không còn nhiều quyền quyết định với việc hương khói cha mẹ đẻ; hoặc một bàn thờ thì không thể đặt nhiều bát hương thuộc các nhánh quan hệ khác nhau.
Những quan niệm ấy không phải vô cớ mà có. Nó gắn với truyền thống, với cấu trúc gia đình phụ hệ, với tập quán thờ cúng được hình thành qua nhiều đời. Tuy nhiên, đời sống hôm nay đã đổi khác rất nhiều. Có những gia đình chỉ sinh con gái. Có người là con một. Có người là người duy nhất trực tiếp lo hậu sự cho cha mẹ. Có những hoàn cảnh cha mẹ già, đau ốm, sa cơ, mất mát mà người con gái là chỗ dựa chính... Nếu cứ áp dụng một công thức duy nhất cho mọi gia đình, rất dễ đẩy những người đang chịu tang thương vào thêm một tầng tổn thương khác.
Trong hôn nhân, chuyện thờ cúng không nên bị biến thành cuộc phân định “bên nào thắng, bên nào nhường”, càng không nên trở thành phép thử quyền lực trong gia đình. Bởi sau cùng, điều mà người vợ mong muốn không phải là giành vị trí cho cha mẹ mình để lấn át gia đình chồng, mà chỉ là xin một chỗ cho nỗi nhớ, cho lòng biết ơn, cho đạo làm con được trọn vẹn hơn.

Một người chồng có thể thương vợ bằng nhiều cách: chia sẻ việc nhà, lo kinh tế, chăm con, bảo vệ vợ trước những va chạm trong cuộc sống. Nhưng còn một sự thương khác sâu hơn: hiểu được nỗi đau tinh thần của vợ, nhất là khi nỗi đau ấy gắn với cha mẹ đã khuất. Tôn trọng nơi thờ tự của cha mẹ vợ, ở một nghĩa nào đó, cũng là tôn trọng chính người phụ nữ đang cùng mình vun vén gia đình.

Một gia đình có phúc là gia đình biết kính trọng, biết ơn ông bà nội ngoại

Một gia đình có phúc là gia đình biết kính trọng, biết ơn ông bà nội ngoại

Khi đạo hiếu cần được nhìn bằng sự thấu hiểu

Từ góc nhìn xã hội học, PGS.TS Trịnh Hòa Bình cho rằng trong đời sống gia đình Việt Nam, bàn thờ không chỉ là một không gian tín ngưỡng, mà còn là nơi neo giữ ký ức, đạo hiếu và căn tính tinh thần của mỗi con người. Với nhiều người con, nhất là những người là con một, con trưởng, hoặc người trực tiếp lo hậu sự cho cha mẹ, việc được thờ cúng cha mẹ trong ngôi nhà mình đang sống không đơn thuần là một nghi thức, mà còn là một nhu cầu tinh thần rất sâu xa. Nếu nhu cầu ấy bị ngăn cản, tổn thương không chỉ nằm ở chuyện thờ cúng, mà còn là cảm giác mình bị tước mất quyền làm con.

Theo ông, trong hôn nhân, điều quan trọng nhất không phải là ai đúng ai sai theo phong tục của riêng một phía, mà là hai bên có đủ bao dung để bước sang phần thiêng liêng nhất trong đời sống của nhau hay không. Một người chồng nếu yêu thương vợ thật sự thì cũng cần hiểu rằng cha mẹ vợ, ở một nghĩa nào đó, cũng là cội nguồn đã sinh thành và dưỡng nuôi người phụ nữ đang cùng mình gây dựng gia đình. Tôn trọng nơi thờ tự của cha mẹ vợ không làm giảm vị trí của gia đình chồng; trái lại, đó là biểu hiện của sự trưởng thành, tử tế và có chiều sâu văn hóa trong ứng xử gia đình.

PGS.TS Trịnh Hòa Bình cũng cho rằng không nên tuyệt đối hóa quan niệm “một nhà chỉ được thờ một bên” theo cách cứng nhắc, bởi đời sống hiện đại đã khác: nhiều gia đình chỉ có con gái, nhiều người là con duy nhất, nhiều cuộc hôn nhân tái cấu trúc từ những hoàn cảnh rất riêng... Nếu cứ dùng một khuôn phép cũ để áp vào mọi cảnh ngộ, sẽ dễ đẩy những người đang chịu mất mát vào thế đau đớn và day dứt lâu dài. Ở đây, điều cần không phải là thắng thua giữa các nếp nhà, mà là một sự sắp xếp thấu tình, đạt lý.

Về hướng giải quyết, theo PGS.TS Trịnh Hòa Bình, không nhất thiết chỉ có một cách. Nếu không thể đặt chung trên bàn thờ gia tiên hiện có, gia đình có thể bàn bạc để bố trí một không gian thờ riêng, trang trọng, gọn gàng trong nhà. Nếu điều kiện nhà cửa chật hẹp hoặc quan niệm giữa các thành viên còn khác biệt, có thể gửi bát hương, bài vị tại nhà thờ họ, từ đường hoặc nhà người thân đủ điều kiện chăm nom, hương khói. Một số gia đình cũng lựa chọn gửi thờ tại chùa, coi đó như một cách gìn giữ sự tưởng niệm và an yên cho người đã khuất.

Nhưng dù chọn cách nào, điều cốt lõi vẫn là thái độ: đừng để người còn sống phải mang thêm mặc cảm bất hiếu chỉ vì mình thiếu đi một chút cảm thông.

Một gia đình có phúc là gia đình biết kính trọng lòng biết ơn

Có những người đàn ông coi cha mẹ vợ như cha mẹ mình khi còn sống: thăm nom, thuốc thang, đỡ đần, gánh vác. Cũng có những người sau khi cha mẹ vợ qua đời vẫn chủ động hương khói, giỗ chạp, cùng vợ giữ gìn nếp thờ tự. Ở những gia đình ấy, người ta không thấy bàn thờ là nơi phân chia bên nội - bên ngoại, mà là nơi nhắc nhau sống tử tế, biết ơn nguồn cội. Và lạ thay, càng biết nhường nhau ở những điều thiêng liêng, gia đình lại càng êm ấm.
Đạo hiếu chưa bao giờ chỉ là chuyện của riêng con trai hay con gái, bên nội hay bên ngoại. Đạo hiếu là cách con người cư xử với đấng sinh thành, và cũng là cách vợ chồng cư xử với nhau qua nỗi đau, mất mát, lòng biết ơn. Một người phụ nữ lấy chồng không có nghĩa là phải bỏ lại cha mẹ mình ở phía sau, càng không thể vì đã bước vào một nếp nhà khác mà mất đi quyền được tưởng nhớ người đã sinh ra mình.

Trong một xã hội đang thay đổi từng ngày, giữ gìn nếp nhà là điều cần thiết. Nhưng giữ nếp không có nghĩa là giữ sự cứng nhắc. Mọi phong tục, nếu còn muốn sống được lâu bền trong đời sống hiện đại, đều cần được soi sáng bằng lòng nhân hậu và sự thấu cảm.
Bởi rốt cuộc, điều làm nên sự ấm cúng của một mái nhà không chỉ là có bàn thờ đặt ở đâu, bát hương thuộc về bên nào, mà là trong ngôi nhà ấy, một người con có được quyền sống trọn vẹn với lòng hiếu thảo của mình hay không. Và một gia đình chỉ thật sự có phúc khi ở đó, người ta biết kính trọng lòng biết ơn - thứ gốc rễ âm thầm nhưng bền sâu nhất của mọi nếp nhà.

NGUYỄN THÚY HIỀN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/gia-dinh/noi-niem-con-gai-khong-co-cho-tho-cha-me-ruot-trong-nha-208509.html