Nội soi đường mật mở rộng khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh lý gan mật tụy
Không chỉ giúp xử trí hiệu quả sỏi đường mật phức tạp, các công nghệ nội soi thế hệ mới còn cho phép quan sát trực tiếp tổn thương, sinh thiết chính xác các vị trí nghi ngờ ung thư, góp phần nâng cao khả năng phát hiện sớm và cá thể hóa điều trị bệnh lý gan mật tụy.

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8 phát biểu khai mạc hội thảo.
Chiều 12/6, Bệnh viện 19-8 tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Tối ưu hóa kỹ thuật ERCP với công nghệ nội soi đường mật”, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực tiêu hóa, gan mật tụy và nội soi can thiệp.
Xu hướng ít xâm lấn trong điều trị gan mật tụy
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8 cho biết, nếu trước đây việc điều trị các bệnh lý gan mật tụy chủ yếu dựa vào phẫu thuật thì hiện nay xu hướng điều trị ít xâm lấn đang ngày càng phát triển và trở thành xu hướng chung của y học hiện đại trên thế giới.
Trong đó, kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) đã có những bước tiến vượt bậc, từ một phương pháp chủ yếu phục vụ chẩn đoán hình ảnh trở thành công cụ quan trọng trong điều trị các bệnh lý gan mật tụy. Đặc biệt, sự ra đời của các hệ thống nội soi đường mật trực tiếp, nội soi đường mật kỹ thuật số cùng các kỹ thuật sinh thiết định hướng đã mở rộng đáng kể khả năng chẩn đoán và điều trị.
“Các bác sĩ hiện nay có thể quan sát trực tiếp niêm mạc đường mật, đánh giá chính xác tổn thương, xác định vị trí hẹp hoặc khối u, đồng thời thực hiện sinh thiết đích nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán cũng như hỗ trợ xử trí các trường hợp sỏi đường mật phức tạp”, Phó Giáo sư Quang nhấn mạnh.

Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Việt Dũng, Trưởng Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện 19-8 chia sẻ với phóng viên bên lề hội thảo.
Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Việt Dũng, Trưởng Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện 19-8 cho biết, trong những năm gần đây, sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại như CT đa dãy, cộng hưởng từ (MRI), cộng hưởng từ mật tụy (MRCP) đã giúp phát hiện sớm hơn nhiều tổn thương đường mật.
Trước đây, với kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), các bác sĩ chủ yếu đánh giá tổn thương một cách gián tiếp thông qua hình ảnh X-quang sau khi bơm thuốc cản quang vào đường mật. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ nội soi đường mật, bác sĩ có thể đưa trực tiếp ống nội soi có gắn camera vào trong lòng đường mật để quan sát tổn thương bằng mắt thường.
Nhờ đó, bác sĩ có thể đánh giá chính xác hơn các bất thường trong đường mật, đồng thời thực hiện sinh thiết trực tiếp tại những vị trí nghi ngờ ung thư hoặc các tổn thương cần xác định bản chất. Đây là bước tiến rất lớn giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán.
Bên cạnh đó, công nghệ này còn hỗ trợ hiệu quả trong điều trị sỏi đường mật, đặc biệt là các trường hợp sỏi kích thước lớn hoặc nằm ở vị trí khó tiếp cận. Kết hợp nội soi đường mật với các kỹ thuật tán sỏi hiện đại giúp nhiều bệnh nhân có thể lấy sạch sỏi qua đường nội soi mà không cần phẫu thuật.
Nội soi siêu âm và sinh thiết thế hệ mới trong phát hiện ung thư sớm
Tiến sĩ, bác sĩ Hồ Đăng Quý Dũng, Trưởng khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, trong sinh thiết khối u tụy và tổn thương đường mật, kỹ thuật EUS-FNA trước đây thường có hạn chế về chất lượng mẫu và số lần chọc.
Sự ra đời của kim sinh thiết thế hệ mới EUS-FNB đã cải thiện rõ rệt hiệu quả, giúp thu mẫu mô tốt hơn, giảm số lần chọc và rút ngắn thời gian thủ thuật, đồng thời bảo đảm độ chính xác tương đương hoặc cao hơn.
Ung thư đường mật tuy hiếm (khoảng 3% ung thư tiêu hóa) nhưng thường được phát hiện muộn do triệu chứng không đặc hiệu.

Tiến sĩ, bác sĩ Hồ Đăng Quý Dũng, Trưởng khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy chia sẻ tại hội thảo.
Theo Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Trọng Ngà (Bệnh viện K Trung ương), kết quả nghiên cứu phối hợp với Giáo sư Ogura (Nhật Bản) cho thấy, nội soi đường mật cho phép quan sát trực tiếp tổn thương và sinh thiết chính xác, với độ nhạy và độ đặc hiệu trên 90% trong chẩn đoán.
Kỹ thuật này giúp phân biệt rõ tổn thương lành tính và ác tính qua các dấu hiệu đặc trưng như mạch máu tân tạo, tổn thương dạng nhú, loét hoặc dễ chảy máu. Đồng thời, nó hỗ trợ phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư và giúp thay đổi chiến lược phẫu thuật ở khoảng 30% bệnh nhân ung thư đường mật vùng rốn gan.
Trong điều trị, nội soi đường mật kết hợp tán sỏi laser hoặc thủy lực giúp nâng tỷ lệ làm sạch sỏi lên trên 90%, giảm đáng kể nhu cầu phẫu thuật. Các công nghệ mới như AI, RFA, laser hay liệu pháp quang động học (PDT) cũng đang mở ra hướng điều trị hiệu quả hơn cho ung thư đường mật.
Theo Tiến sĩ Hồ Đăng Quý Dũng, xu hướng hiện nay là kết hợp đồng thời nhiều công nghệ như nội soi siêu âm (EUS), nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) và nội soi đường mật trực tiếp (SpyGlass) trong cùng một quy trình điều trị nhằm xử lý những trường hợp phức tạp của bệnh lý gan mật tụy.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực mới như Endo-Hepatology (nội soi gan học), Endoscopic Oncology (nội soi ung thư học) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong nội soi đang được kỳ vọng sẽ tạo ra những bước tiến lớn trong phát hiện sớm và điều trị các bệnh lý ung thư gan, mật và tụy trong tương lai.
“Đây là những lĩnh vực rất mới nhưng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, góp phần thay đổi cách tiếp cận trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý gan mật tụy trong những năm tới”, Tiến sĩ Dũng nhấn mạnh.











