Nơi tình yêu bắt đầu

Mỗi mùa hoa ban trắng rừng Tây Bắc, hang Thẩm Lé - hang Tình Yêu của người Thái Mường Lò - nơi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau qua tiếng khèn, tiếng pí và những câu hát giao duyên. Dẫu phong tục xưa dần mai một, ký ức về một miền yêu thương vẫn được các nghệ nhân gìn giữ, trao truyền như nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Ở Mường Lò, vùng đất giàu bản sắc văn hóa Thái, hang Thẩm Lé từng là điểm hẹn tình yêu của trai gái mỗi độ xuân về. Theo cách lý giải lưu truyền trong cộng đồng, tên gọi Thẩm Lé gắn với ánh mắt liếc nhìn, đưa tình kín đáo. Hội chơi hang thường diễn ra vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch khi hoa ban nở trắng núi rừng.

Trước ngày hội, thầy mo làm lễ xin phép thần núi, thần hang, cầu cho trai gái tìm được người thương, bản mường mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ. Sau nghi lễ, trai gái trong trang phục truyền thống nô nức về hội, trao nhau nhành ban, hát khắp, thổi khèn, thổi pí giữa không gian hang đá huyền ảo. Nơi đây đã chứng kiến bao cuộc gặp gỡ, lời hẹn ước và cả những mối tình dang dở khó phai.

Theo lời các cụ cao niên, lòng hang có nhiều ngách quanh co, chỗ rộng, chỗ hẹp, nhũ đá muôn hình, khó đoán định chiều sâu. Tương truyền, có người mang theo cốm rang vào khám phá rất lâu mà vẫn chưa tìm được tận cùng hang. Những câu chuyện ấy càng khiến Thẩm Lé trở nên huyền bí trong tâm thức người dân địa phương.

Thời gian trôi qua, những cuộc vui xuân đông đúc ngày nào dần vắng bóng. Trong số những người còn nhớ rõ phong tục ấy, Nghệ nhân Điêu Thị Xiêng ở thôn Đêu 2, phường Nghĩa Lộ vẫn đau đáu với những câu chuyện về hang Tình Yêu. Gần 80 tuổi, bà Xiêng nhớ lại những ngày tuổi trẻ cùng trai làng, gái bản tìm đến Thẩm Lé mỗi độ xuân về. Với bà, đó là những tháng ngày trong trẻo khi con người gần gũi nhau qua lời hát, tiếng cười và những phong tục đã được cộng đồng gìn giữ từ bao đời.

Bà Xiêng kể, mỗi người thường mang theo đuốc để soi đường khi bước vào hang. Ánh lửa chập chờn soi những vòm đá, những nhũ đá rủ xuống với hình thù kỳ thú. Nước từ trên cao nhỏ từng giọt trong veo, bất chợt rơi xuống cổ, xuống vai đem lại cảm giác mát lạnh giữa lòng hang. Lối đi lúc rộng, lúc hẹp, có đoạn quanh co khiến người đi phải dò dẫm từng bước. Tiếng gọi nhau vang vọng giữa không gian tĩnh lặng. Với các trai làng, gái bản, chuyến khám phá hang động không chỉ đem lại niềm vui mà còn là dịp để gần gũi, trò chuyện và bày tỏ tình cảm. Ra khỏi hang, từng nhóm trai gái ngồi nghỉ trên thảm cỏ kể chuyện, hát đối đáp và trao nhau ánh nhìn trìu mến. Bà Xiêng cũng từng có một mối tình đẹp trong những lần đi hội. Dẫu tình yêu ấy không đi đến hôn nhân, bà vẫn giữ gìn như một kỷ niệm quý giá của thời thanh xuân.

Nhắc lại chuyện cũ, giọng bà Xiêng như chậm hơn. Điều bà nhớ không chỉ là một người từng thương mà còn là cả không gian văn hóa đã nuôi dưỡng những rung động đầu đời. Ngày ấy, trai gái gặp nhau giữa hội xuân, tìm hiểu nhau qua lời hát, qua cách ứng xử và sự đồng điệu trong tâm hồn. Những cuộc vui như thế vừa tạo cơ hội kết bạn, nên duyên vừa góp phần gắn kết các bản mường. Bà Xiêng còn nhớ những buổi ngồi bên nhau sau cuộc chơi hang, khi câu chuyện nàng Ban, chàng Khun lại được nhắc đến. Truyền thuyết ấy đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống tinh thần của người Thái gắn với sắc trắng hoa ban và những khát vọng tình yêu của bao thế hệ.

Chuyện kể rằng, thuở xa xưa, nàng Ban xinh đẹp đem lòng yêu chàng Khun khỏe mạnh, giỏi săn bắn, làm nương và thổi khèn. Nhưng cha mẹ Ban vì ham giàu sang đã ép nàng kết hôn với người khác.

Không thể thay đổi quyết định của gia đình, Ban bỏ đi tìm người yêu. Nàng băng rừng, vượt núi vừa đi vừa gọi tên Khun, cho đến khi kiệt sức và ngã xuống. Nơi nàng nằm lại mọc lên loài hoa trắng muốt được người đời gọi là hoa ban.

Khi trở về, Khun lần theo dấu người yêu nhưng không tìm thấy nàng. Chàng tiếp tục đi qua những cánh rừng, bản mường rồi gục xuống bên núi Thẩm Lé.

Theo truyền thuyết, chàng hóa thành chim Khun cất tiếng hót đơn chiếc mỗi mùa hoa nở. Mối tình dang dở của Ban và Khun trở thành câu chuyện được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Hoa ban vì thế không chỉ đẹp bởi sắc trắng tinh khôi mà còn gợi nhắc tình yêu thủy chung, nỗi đau khi duyên tình bị ngăn trở và khát vọng được sống bên người mình yêu.

Nghệ nhân Điêu Thị Xiêng cho rằng, hội xuân hang Thẩm Lé, những cuộc đi chơi hang và phong tục ngắm hoa, nghe chim hót có thể đã gắn bó với những câu chuyện dân gian ấy từ lâu. Dù chưa thể khẳng định nguồn gốc trực tiếp của phong tục, sự giao hòa giữa truyền thuyết, cảnh sắc và sinh hoạt cộng đồng đã làm nên nét riêng của Thẩm Lé.

Trong những câu hát giao duyên của người Thái, hoa ban thường trở thành hình ảnh gửi gắm tình cảm: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/Tình ta đẹp như hoa ban/Còn dài lâu như hoa nào/Hỡi người ta yêu!”. Lời hát mộc mạc mà tha thiết như một lời ước nguyện về tình yêu bền lâu giữa những đổi thay của cuộc đời.

Câu chuyện về nàng Ban, chàng Khun còn được người dân liên hệ với một món ăn quen thuộc của người Thái Tây Bắc: Măng vầu nấu hoặc chế biến cùng hoa ban. Măng vầu có vị đắng nhẹ, hoa ban đem lại vị chua thanh và hương thơm dịu. Khi kết hợp, những hương vị tưởng như đối lập lại hòa quyện tạo nên món ăn mang đậm dấu ấn núi rừng.

Trong cách lý giải dân gian, măng vầu gắn với vị đắng và sự gian khó, còn hoa ban tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khiết của người con gái. Sự kết hợp giữa hai nguyên liệu vì thế gợi nhắc câu chuyện tình xưa, nơi những điều ngọt ngào luôn đi cùng mất mát, đắng cay.

Từ một món ăn bình dị, ký ức về truyền thuyết và phong tục được lưu giữ ngay trong đời sống thường ngày. Đó cũng là nét đặc sắc của văn hóa dân gian: những câu chuyện không chỉ tồn tại trong lời kể mà còn hiện diện trong ẩm thực, phong tục và cách con người cảm nhận thiên nhiên quanh mình.

Ngày nay, nhịp sống đổi thay khiến những hình thức giao lưu, kết bạn của người trẻ không còn như trước. Những cuộc hẹn hò trong lòng hang, tiếng khèn gọi bạn tình giữa mùa hoa ban hay những lời hát giao duyên dưới vòm đá giờ đây chủ yếu còn trong ký ức của người cao tuổi.

Điều khiến nghệ nhân Điêu Thị Xiêng trăn trở là khi những người từng trực tiếp tham gia hội chơi lần lượt già đi, nhiều chi tiết về nghi lễ, lời hát và phong tục cũng có thể mai một. Bởi vậy, mỗi dịp đầu năm, bên bếp lửa gia đình, bà lại kể cho con cháu nghe về hang Thẩm Lé, về những chuyến đi chơi hội thời trẻ và câu chuyện nàng Ban, chàng Khun.

Với bà Xiêng, kể lại chuyện xưa cũng là cách truyền cho thế hệ sau hiểu biết về cội nguồn. Những phong tục ấy không chỉ gắn với tình yêu đôi lứa mà còn phản ánh cách người Thái tổ chức đời sống cộng đồng, ứng xử với thiên nhiên và gửi gắm ước vọng về mùa màng, hạnh phúc.

Từ nỗi niềm của người nghệ nhân cao tuổi, việc bảo tồn hang Thẩm Lé đặt ra yêu cầu cần thiết: sưu tầm, ghi chép những câu chuyện dân gian, lời hát giao duyên, nghi lễ và ký ức của những người từng dự hội.

Các nhà nghiên cứu, nghệ nhân và chính quyền địa phương có thể phối hợp khảo sát, đánh giá giá trị di sản, từ đó xem xét phương án bảo tồn phù hợp. Nếu đáp ứng các điều kiện về an toàn hang động, bảo vệ cảnh quan và có sự đồng thuận của cộng đồng, hội chơi hang Thẩm Lé có thể được nghiên cứu phục dựng.

Tuy nhiên, điều quan trọng không phải chỉ tái hiện một lễ hội để thu hút khách du lịch mà phải giữ được ý nghĩa văn hóa và tinh thần nhân văn vốn có của phong tục. Bởi một di sản chỉ thực sự sống khi cộng đồng còn nhớ, còn kể, còn tự hào và có cơ hội trao truyền cho thế hệ kế tiếp.

Mỗi độ xuân về, hoa ban lại nở trắng những cánh rừng Tây Bắc. Những cánh hoa mỏng manh cứ bền bỉ bung nở giữa đất trời gợi nhắc những câu chuyện tình yêu đã đi vào ký ức cộng đồng. Có thể những cuộc hẹn hò nơi hang đá không còn diễn ra như thuở trước, nhưng tiếng khèn, lời hát và những câu chuyện của người xưa vẫn tiếp tục được gìn giữ.

Trong lời kể của nghệ nhân Điêu Thị Xiêng, hang Thẩm Lé hiện lên không chỉ bằng những nhũ đá kỳ thú hay lối đi quanh co hun hút mà còn bằng tiếng cười tuổi trẻ, những ánh mắt trao duyên và những lời hát từng làm say lòng người.

Giữ gìn hang Thẩm Lé vì thế không chỉ là bảo tồn một địa danh hay phục dựng một lễ hội; đó còn là gìn giữ một phần ký ức văn hóa của người Thái Mường Lò, để những giá trị đẹp đẽ của cha ông tiếp tục được trao truyền như sắc ban trắng mỗi mùa xuân lại lặng lẽ nở giữa đại ngàn.

Trần Ngọc Sơn

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/noi-tinh-yeu-bat-dau-post913082.html