Nông dân thuộc hộ nghèo, cận nghèo có thể được hỗ trợ tới 95% phí bảo hiểm nông nghiệp
Chính sách mới đồng thời mở rộng mức hỗ trợ cho nhóm sản xuất không thuộc diện nghèo, cận nghèo và các tổ chức, hợp tác xã.
Cụ thể, theo Nghị định 346/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng 5 điểm phần trăm so với mức 90% quy định trước đây.
Với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, mức hỗ trợ tối đa được nâng từ 20% lên 50% phí bảo hiểm. Trong khi đó, tổ chức sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ tối đa 30%, tăng 10 điểm phần trăm so với mức hiện nay.
Chính sách hỗ trợ đối với tổ chức được áp dụng cho doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Nghị định đồng thời xác định nhóm tổ chức sản xuất nông nghiệp có thể được hưởng chính sách. Trong đó có tổ chức có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm; tổ chức có sản phẩm nông nghiệp được chứng nhận bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định.
Cùng với việc tăng mức hỗ trợ, phạm vi đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ cũng được quy định gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương công bố.

Mở rộng phạm vi các đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp
Các rủi ro được bảo hiểm được chia thành hai nhóm gồm thiên tai và dịch bệnh. Đối với thiên tai, chính sách bao gồm nhiều rủi ro có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất như bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất và sóng thần.
Đối với dịch bệnh, phạm vi hỗ trợ gồm dịch bệnh động vật trên cạn, dịch bệnh động vật thủy sản và dịch hại thực vật theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Việc hỗ trợ sẽ được triển khai theo quyết định của từng địa phương. Căn cứ chiến lược, kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp và định hướng phát triển đặc thù, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp trên toàn bộ địa bàn hoặc tại một số địa bàn cấp xã.
Cùng với phạm vi áp dụng, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cũng quyết định đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro được bảo hiểm, mức hỗ trợ và thời gian thực hiện chính sách tại địa phương. Cách quy định này tạo cơ sở để chính sách hỗ trợ được xác định phù hợp với đặc điểm sản xuất và định hướng phát triển nông nghiệp của từng địa bàn.
Sau khi chính sách được đưa ra, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ có trách nhiệm tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo, UBND cấp xã tổ chức tập huấn, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm nông nghiệp.
Nghị định 346/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.

