Nông nghiệp công nghệ cao – Bài cuối: Những gợi mở cho Việt Nam

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao không đơn thuần là đưa máy móc hiện đại vào đồng ruộng, mà quan trọng hơn là lựa chọn những công nghệ phù hợp với nhu cầu sản xuất và khả năng ứng dụng thực tế.

Từ kinh nghiệm của Australia, Giáo sư Robert Henry thuộc Đại học Queensland cho rằng Việt Nam có nhiều cơ hội thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và mở rộng hợp tác nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn.

Việc áp dụng công nghệ robot và máy bay không người lái trong nông nghiệp mang lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho Australia. Ảnh: TTXVN

Việc áp dụng công nghệ robot và máy bay không người lái trong nông nghiệp mang lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho Australia. Ảnh: TTXVN

* Ưu tiên công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam

Theo Giáo sư Henry, Australia và Việt Nam có những thế mạnh bổ sung cho nhau trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Australia sở hữu năng lực nghiên cứu tiên tiến, hệ thống đổi mới sáng tạo phát triển và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ hiện đại. Trong khi đó, Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp năng động, thị trường rộng lớn và nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, một trong những bài học quan trọng từ Australia là phát triển nông nghiệp công nghệ cao phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, thay vì chạy theo những công nghệ đắt tiền. Với đặc điểm sản xuất còn có sự tham gia của đông đảo hộ nông dân quy mô nhỏ, Việt Nam cần ưu tiên các giải pháp có chi phí hợp lý, dễ ứng dụng và có khả năng nhân rộng.

Chẳng hạn, tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt ngày càng ảnh hưởng đến sản xuất, các công nghệ tưới chính xác, cảm biến theo dõi độ ẩm và hệ thống quản lý nước thông minh của Australia có nhiều tiềm năng ứng dụng. Những giải pháp này giúp nông dân điều chỉnh lượng nước phù hợp với nhu cầu cây trồng, giảm lãng phí và hạn chế rủi ro trước biến động thời tiết.

Với lĩnh vực giống cây trồng, Giáo sư Henry đánh giá cao triển vọng hợp tác nghiên cứu công nghệ chỉnh sửa gien nhằm phát triển các giống lúa và cây trồng có khả năng chịu mặn, chịu hạn, kháng bệnh và thích ứng với những điều kiện sinh thái khác nhau. Giáo sư cho rằng đây là hướng nghiên cứu có ý nghĩa đối với Việt Nam trong việc bảo đảm an ninh lương thực và duy trì năng lực sản xuất trước tác động của biến đổi khí hậu.

Một hướng ưu tiên khác là ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc nông sản. Khi các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng an toàn thực phẩm, tính minh bạch và các tiêu chuẩn phát triển bền vững, khả năng theo dõi sản phẩm từ đồng ruộng đến khâu chế biến, phân phối sẽ góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Ngoài ra, robot và thiết bị tự động có thể được ứng dụng trong sản xuất rau quả, chăm sóc cây trồng, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch, giúp giảm chi phí và sự phụ thuộc vào lao động thủ công.

Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu còn cao là trở ngại đối với nhiều hộ nông dân. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu phát triển các mô hình sử dụng chung máy móc, thiết bị thông qua doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, thay vì để từng hộ tự đầu tư hệ thống công nghệ hoàn chỉnh.

Bên cạnh lựa chọn công nghệ, Giáo sư Henry nhấn mạnh vai trò của liên kết nghiên cứu và chuyển giao. Kinh nghiệm Australia cho thấy hiệu quả của mô hình hợp tác giữa chính phủ, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, trong đó các hoạt động nghiên cứu được định hướng bởi những vấn đề thực tế của sản xuất.

Giáo sư nhấn mạnh, đối với Việt Nam, cần tăng cường kết nối giữa các cơ sở nghiên cứu và người sản xuất, đồng thời mở rộng các mô hình thử nghiệm, trình diễn công nghệ tại những vùng nông nghiệp trọng điểm.

Phát triển nguồn nhân lực cũng là điều kiện quan trọng. Nông nghiệp công nghệ cao cần không chỉ các nhà khoa học mà cả đội ngũ kỹ thuật viên, người lao động có khả năng vận hành thiết bị tự động, sử dụng dữ liệu và bảo dưỡng hệ thống sản xuất hiện đại. Đồng thời, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, quản lý công nghệ sinh học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thu hút đầu tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp.

Giáo sư danh dự Robert Henry thuộc Đại học Queensland, chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo nông nghiệp của Australia. Ảnh: TTXVN

Giáo sư danh dự Robert Henry thuộc Đại học Queensland, chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo nông nghiệp của Australia. Ảnh: TTXVN

* Tăng cường hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ

Theo Giáo sư Henry, triển vọng hợp tác nông nghiệp công nghệ cao giữa Việt Nam và Australia rất rộng mở, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất lúa, rau quả và nuôi trồng thủy sản. Những mối quan hệ hợp tác nghiên cứu giữa Đại học Queensland với các đối tác Việt Nam, trong đó có VinUniversity, cùng các chương trình liên kết về nghiên cứu lúa gạo đã tạo nền tảng để hai nước mở rộng những dự án khoa học chung.

Một trong những hướng hợp tác đáng chú ý là nghiên cứu phát triển giống lúa mới bằng công nghệ chỉnh sửa gene. Australia có thế mạnh về sinh học phân tử và công nghệ gien, trong khi Việt Nam sở hữu nguồn vật liệu di truyền phong phú cùng mạng lưới khảo nghiệm giống tại nhiều vùng sinh thái. Sự kết hợp này có thể giúp phát triển các giống lúa năng suất cao, có khả năng chịu mặn, chịu hạn và kháng bệnh, phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.

Giáo sư Henry cũng đề xuất mở rộng các trung tâm nghiên cứu chung, tạo điều kiện để nhà khoa học hai nước chia sẻ phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và địa điểm khảo nghiệm. Các chương trình này có thể giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tế.

Về phát triển nhân lực, Giáo sư Henry khuyến nghị nên mở rộng các chương trình đào tạo tiến sĩ, sau tiến sĩ và trao đổi nhà nghiên cứu giữa hai nước. Thông qua hợp tác đào tạo và nghiên cứu thực tế, các nhà khoa học trẻ Việt Nam có thể tiếp cận những công nghệ tiên tiến, đồng thời nâng cao năng lực ứng dụng vào điều kiện sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, chuyên gia nông nghiệp Australia lưu ý rằng quá trình chuyển giao công nghệ vẫn đối mặt với không ít thách thức. Sự khác biệt về quy định quản lý công nghệ sinh học, chi phí đầu tư cao, hạ tầng số chưa đồng đều và tình trạng thiếu nhân lực kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến khả năng triển khai. Đặc biệt, những công nghệ đã phát huy hiệu quả tại các trang trại quy mô lớn của Australia chưa chắc phù hợp ngay với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ tại Việt Nam. Vì vậy, các dự án hợp tác cần chú trọng thử nghiệm, điều chỉnh và đánh giá hiệu quả kinh tế trước khi nhân rộng.

Theo Giáo sư Henry, sự tham gia của khu vực tư nhân sẽ có vai trò quan trọng trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, giúp công nghệ tiếp cận người sản xuất và tạo ra giá trị thực tế.

Về lâu dài, hợp tác Việt Nam - Australia có thể phát triển thành mô hình liên kết đổi mới sáng tạo nông nghiệp có ý nghĩa đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Giáo sư Herry tin rằng việc tăng cường hợp tác sẽ giúp cả cả hai nước cùng đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, nâng cao giá trị nông sản và phát triển nền nông nghiệp bền vững, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Diệu Linh – Lê Đạt/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-bai-cuoi-nhung-goi-mo-cho-viet-nam/440240.html