Nông nghiệp sinh thái: 'Tấm hộ chiếu xanh' cho nông sản Việt - Bài 1: Từ lựa chọn xanh đến xu hướng tái cấu trúc nền nông nghiệp

Biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên cùng những “hàng rào xanh” ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế đang buộc nông nghiệp Việt Nam phải thay đổi cách thức sản xuất. Trong bối cảnh đó, nông nghiệp sinh thái không còn dừng ở những mô hình thử nghiệm mà đang trở thành xu hướng tất yếu, mở ra hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản, giảm phát thải và xây dựng thương hiệu Việt trên thị trường toàn cầu.

Tại nhiều địa phương nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch đang trở thành mũi nhọn để phát triển kinh tế. Ảnh: L.H.

Tại nhiều địa phương nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch đang trở thành mũi nhọn để phát triển kinh tế. Ảnh: L.H.

Với khoảng 10,3 triệu ha đất nông nghiệp, Việt Nam có nền tảng sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng đồng thời cũng đứng trước những thách thức chưa từng có. Biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan; tài nguyên đất, nước chịu sức ép; chi phí vật tư và logistics biến động; trong khi các thị trường nhập khẩu liên tục nâng chuẩn về môi trường, an toàn thực phẩm và trách nhiệm xã hội.

Nếu trước đây năng lực cạnh tranh của nông sản chủ yếu được đo bằng sản lượng và giá thành thì nay những tiêu chí như phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, sử dụng tài nguyên hiệu quả, dư lượng hóa chất hay trách nhiệm với người lao động ngày càng trở thành điều kiện để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường.

Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều thị trường lớn đang từng bước hình thành những “hàng rào xanh” mới. Điều này đặt nông sản Việt Nam trước một yêu cầu rõ ràng: không chỉ sản xuất được nhiều hơn mà phải sản xuất sạch hơn, minh bạch hơn và có trách nhiệm hơn.

Thực tế từ các mặt hàng như mít, sầu riêng và nhiều loại trái cây cho thấy, chỉ một thay đổi về quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn chất lượng hoặc yêu cầu truy xuất nguồn gốc cũng có thể khiến hàng hóa bị ùn ứ, thậm chí bị trả lại. Những sự cố như vậy cho thấy điểm yếu của mô hình sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết và thiếu khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị.

Nông dân Đồng Tháp thu hoạch lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Thanh Tiến.

Nông dân Đồng Tháp thu hoạch lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Thanh Tiến.

TS Trần Công Thắng - Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhìn nhận ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, với mức xuất siêu khoảng 21 tỷ USD năm 2025. Tuy nhiên, những biến động địa chính trị, chi phí logistics và giá vật tư đầu vào đang tạo ra sức ép ngày càng lớn đối với khả năng thích ứng của ngành. Trong bối cảnh ấy, câu hỏi đặt ra không còn là Việt Nam có nên chuyển đổi sang nông nghiệp xanh hay không, mà là chuyển đổi nhanh đến đâu và bằng cách nào để không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

“Không thể tiếp tục tư duy sản xuất cái mình có mà phải chuyển sang đáp ứng cái thị trường cần”, ông Trần Công Thắng nhấn mạnh đồng thời khẳng định đây chính là điểm khởi đầu của quá trình chuyển từ nền nông nghiệp thiên về sản lượng sang nền nông nghiệp coi trọng giá trị, chất lượng và tính bền vững.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT), sản xuất phát thải thấp không còn là câu chuyện dài hạn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam về phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Nông nghiệp sinh thái vì thế đang được nhìn nhận rộng hơn một phương thức canh tác. Đó là quá trình tổ chức lại mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp, con người và hệ sinh thái, trong đó đất, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên được sử dụng tiết kiệm hơn; hóa chất đầu vào được kiểm soát; chất thải được tái sử dụng; đa dạng sinh học được bảo vệ và phát thải khí nhà kính được giảm thiểu.

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan từng nhấn mạnh, nông nghiệp sinh thái không chỉ là một phương thức canh tác mà còn là cách con người “lắng nghe và tôn trọng thiên nhiên”. Cách tiếp cận này cho thấy sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Nếu mô hình cũ tập trung tối đa hóa sản lượng trên một đơn vị diện tích thì mô hình mới hướng tới tối ưu hóa tổng giá trị tạo ra từ hệ sinh thái sản xuất.

Theo ông Lê Minh Hoan một cánh đồng lúa không chỉ tạo ra hạt gạo. Nếu được tổ chức theo hướng sinh thái, cánh đồng còn có thể tạo ra giá trị từ việc giảm phát thải, tiết kiệm nước, giảm chi phí đầu vào, cải thiện chất lượng đất, tạo tín chỉ carbon và nâng cao giá trị thương hiệu của sản phẩm. Đó chính là bước chuyển từ “sản xuất xanh” sang “giá trị xanh”.

Từ cánh đồng đến thương hiệu

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NNMT), cho rằng nhiều năm qua tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu dựa vào sản lượng và mở rộng diện tích tuy nhiên hiện nay xu hướng cạnh tranh đã chuyển sang “giá trị xanh”. Sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ, bền vững hoặc phát thải thấp thường có giá cao hơn 10-25% so với sản phẩm truyền thống. Điều này phản ánh sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng toàn cầu, khi người mua ưu tiên sản phẩm có trách nhiệm với môi trường.

Một minh chứng tiêu biểu là lô hàng mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” được xuất khẩu sang Nhật Bản trong năm 2025. Việc thâm nhập thành công thị trường khó tính này cho thấy gạo Việt không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm mà còn đạt yêu cầu về giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình nâng tầm thương hiệu gạo Việt.

Song song đó, giống gạo ST25 - từng đạt danh hiệu “Gạo ngon nhất thế giới” - tiếp tục được đầu tư xây dựng thương hiệu quốc tế. Việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, kiểm soát chất lượng vùng nguyên liệu và xây dựng chuỗi giá trị đồng bộ đang giúp sản phẩm này duy trì vị thế trên thị trường cao cấp.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, dự án “Trung tâm đổi mới sáng tạo xanh” do Việt Nam phối hợp cùng Deutsche Gesellschaft fur Internationale Zusammenarbeit (GIZ) triển khai giai đoạn 2021-2025 đã hỗ trợ chuỗi giá trị lúa gạo và xoài theo hướng giảm phát thải, tối ưu hóa đầu vào và ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc. Mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp xây dựng nhãn hiệu sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Khi toàn bộ chuỗi - từ canh tác, thu hoạch, chế biến đến phân phối - đều tuân thủ tiêu chí xanh, sản phẩm có cơ sở vững chắc để quảng bá thương hiệu tại các thị trường quốc tế.

Bên cạnh lúa gạo, nhiều địa phương đang phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm, tạo nên “câu chuyện thương hiệu” cho sản phẩm. Yếu tố văn hóa, bản địa và trách nhiệm môi trường trở thành giá trị gia tăng giúp sản phẩm khác biệt trên thị trường. Theo số liệu của Bộ NNMT, giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã triển khai hơn 200 mô hình nông nghiệp sinh thái với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP... Các mô hình bước đầu cho thấy khả năng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, giảm phát thải và cải thiện sinh kế cho người sản xuất.

Đáng chú ý, một số mô hình cho thấy phát thải có thể giảm tới 70% so với phương thức canh tác truyền thống. Khi giảm lượng vật tư đầu vào, tiết kiệm nước và năng lượng, người nông dân đồng thời giảm được chi phí sản xuất. Như vậy, lợi ích môi trường không tách rời lợi ích kinh tế mà có thể trở thành một bộ phận của giá trị sản phẩm.

Thực tế cho thấy một trong những thay đổi quan trọng nhất của nông nghiệp sinh thái là sự dịch chuyển từ tư duy “sản xuất” sang tư duy “chuỗi giá trị”. Sản phẩm xanh không thể chỉ được tạo ra ở khâu canh tác. Một sản phẩm muốn có giá trị cao phải bảo đảm tính bền vững xuyên suốt từ giống, vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, logistics cho tới phân phối và tiêu dùng. Điều này lý giải vì sao truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và hệ thống dữ liệu sản xuất ngày càng trở nên quan trọng.

Theo ông Phùng Đức Tiến - nguyên Thứ trưởng Bộ NNMT hiện xu hướng cạnh tranh hiện nay đang chuyển sang “giá trị xanh”. Theo đó những sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ, bền vững hoặc phát thải thấp có thể đạt mức giá cao hơn 10-25% so với sản phẩm truyền thống. Nếu xu hướng này tiếp tục mở rộng, tiêu chuẩn xanh sẽ không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật mà trở thành một tài sản thương hiệu.

“Một bao gạo có thể được bán với giá cao hơn không chỉ vì giống ngon, mà còn vì người mua biết nó được sản xuất với lượng phát thải thấp, sử dụng nước tiết kiệm, có thể truy xuất đến vùng nguyên liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường. Một quả xoài hay trái sầu riêng cũng có thể gia tăng giá trị khi phía sau sản phẩm là một vùng trồng được quản lý chặt chẽ, quy trình sản xuất minh bạch và chuỗi cung ứng có trách nhiệm”, nguyên Thứ trưởng Bộ NNMT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, ngành nông nghiệp đang từng bước định hình hệ sinh thái sản xuất mới, trong đó khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt. Hiện đã có 22 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai Đề án “Sản xuất trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”. Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là hình thành nền nông nghiệp phát thải thấp quy mô lớn, gắn với kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và quản lý tài nguyên hiệu quả.

Lan Hương - Thanh Bình

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nong-nghiep-sinh-thai-tam-ho-chieu-xanh-cho-nong-san-viet-bai-1-tu-lua-chon-xanh-den-xu-huong-tai-cau-truc-nen-nong-nghiep.html