Nông sản Việt đi xa nhờ hành trình bền bỉ

Không ồn ào, không đi tắt, có những người làm nông nghiệp chọn cách lặng lẽ bước từng bước chắc chắn.

Những nông dân cần mẫn chăm sóc từng gốc chanh. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Những nông dân cần mẫn chăm sóc từng gốc chanh. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Từ mặt biển đến ruộng đồng, họ chấp nhận đi chậm, giữ chuẩn và trả giá bằng thời gian, vốn liếng, thậm chí cả những mùa lỗ liên tiếp. Chính sự kiên trì ấy đã giúp nông sản Việt vượt qua những cánh cửa khó tính, từng bước đặt chân vào các thị trường xa bằng nền tảng niềm tin.

Những ngày cuối năm, khi nhiều người nhìn lại thành quả thu được để tính toán cho chặng đường mới, anh Võ Đặng Thành Trung, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Womart D2C Việt Nam vẫn tất bật giữa vùng nuôi rong nho ở xã Liên Hương, tỉnh Lâm Đồng, khôi phục từng bể nuôi sau trận lũ lịch sử tháng 11/2025. Gần như toàn bộ thành quả gây dựng, hạ tầng bị lũ cuốn trôi, nhưng với anh, đây không phải lần đầu phải làm lại từ đầu.

Khởi nghiệp với rong nho từ năm 2019, anh Trung không nhiều vốn, cũng chưa giàu kinh nghiệm. Anh thuê mặt nước biển để nuôi thử, vừa làm vừa học, vừa liên kết với một số hộ dân xung quanh. Ước mơ đưa sản phẩm bay xa, những lô hàng xuất khẩu đầu tiên lại mang đến bài học đắt giá. Do sản lượng chưa đủ, anh thu mua thêm từ các hộ nuôi bên ngoài, nhưng quy trình không đồng nhất. Rong thu hoạch non, sử dụng phân bón để rút ngắn thời gian, nhìn đẹp nhưng không bền.

Khi xuất sang Nhật Bản, sản phẩm bị chảy nước, teo lại, không đạt yêu cầu. Hàng bị trả về, chi phí đội lên, niềm tin thị trường lung lay. “Lúc đó mới hiểu, đi Nhật hay đi Mỹ thì không thể làm nửa vời, càng không có đường tắt”, anh Trung nhớ lại.

Sau những thất bại ấy, anh bắt đầu mày mò tìm hiểu kỹ tiêu chuẩn của thị trường Nhật Bản, rồi tự xây dựng “bộ tiêu chuẩn riêng” cho cơ sở mình, từ quy trình nuôi, thời gian thu hoạch, cách rửa, đóng gói đến bảo quản và vận chuyển. Chi phí tăng mạnh, nhưng đổi lại là sự chủ động kiểm soát chất lượng.

Phải đến năm 2021, rong nho tươi mới bắt đầu xuất khẩu ổn định sang Nhật Bản, sau đó mở rộng sang Mỹ thông qua các đối tác Nhật Bản. Giai đoạn cao điểm, mỗi tháng cơ sở xuất khẩu từ 8–10 tấn rong nho tươi, hoàn toàn bằng đường hàng không. Riêng thị trường Nhật Bản chiếm khoảng 80% sản lượng. Sản phẩm được đóng gói theo yêu cầu riêng của từng khách hàng, từ khay nhỏ đến thùng lớn.

Trong khi nhiều cơ sở chọn rong muối để giảm rủi ro, anh Trung kiên trì với rong nho tươi – sản phẩm khó làm hơn, đòi hỏi kỷ luật nghiêm ngặt: thu hoạch đúng độ tuổi, bảo quản ở nhiệt độ phù hợp, vận chuyển nhanh và chính xác. Chỉ cần sai một khâu, cả lô hàng có thể mất trắng.

Để giữ chuẩn, anh chọn cách tự nuôi là chính với quy mô khoảng 10 ha, hạn chế mở rộng liên kết. “Đi chậm nhưng chắc, làm trong khả năng của mình”, anh nói. Sau lũ, phải đến tháng 2/2026, anh mới nối lại được xuất khẩu. “Khách hàng hiểu đây là thiên tai, họ rất chia sẻ và chờ mình quay lại”, anh chia sẻ, bình thản như đã quen với những thử thách bất ngờ.

Sản phẩm Chanh Việt được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Sản phẩm Chanh Việt được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Cách rong nho hàng trăm cây số, anh Nguyễn Văn Hiển, Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và Đầu tư Chanh Việt cũng chọn con đường chậm rãi nhưng bền bỉ để đưa trái chanh Việt ra thế giới.

Từ năm 2010, anh Hiển cùng các cộng sự trở về từ nước ngoài, chọn vùng đất nhiễm phèn nặng, ngập mặn, hầu như không có hạ tầng của Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) khai phá. Muốn trồng chanh, trước hết phải cải tạo đất, kéo điện, khoan giếng, dựng hệ thống tưới. Suốt 3–4 năm, họ gần như chỉ làm mỗi khâu cải tạo đất bằng phân hữu cơ trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.

Năm 2014, Công ty Chanh Việt chính thức ra đời, bắt đầu hành trình xây dựng thương hiệu. Nhưng anh Hiển sớm nhận ra, nếu chỉ bán chanh tươi theo cách truyền thống, người trồng khó thoát cảnh bấp bênh. Chanh rớt giá, nông dân nợ nần là vòng lặp quen thuộc. Chanh Việt chọn trồng theo GlobalGAP để xuất khẩu sang châu Âu, nhưng thực tế chỉ khoảng 30% sản lượng đạt chuẩn trái đẹp.

Trong khi đó, thị trường chanh tươi cạnh tranh khốc liệt với Mexico, Brazil về giá và mùa vụ. Thời gian bảo quản cũng là rào cản lớn, chỉ cần trái ngả vàng khi đến nơi, khách hàng sẽ từ chối nhận hàng.

Lối thoát nằm ở chế biến sâu. Anh Hiển bắt đầu mày mò nghiên cứu từng sản phẩm, từng thị trường. Năm 2015, những sản phẩm chế biến từ chanh lần đầu vào được Nhật Bản, Hàn Quốc. Số lượng chưa lớn, nhưng giúp anh hiểu thị trường cần gì và sẵn sàng chấp nhận điều gì.

Đến nay, Chanh Việt đã phát triển hơn 80 sản phẩm từ chanh: từ bột chanh, nước cốt chanh tiệt trùng không đắng, sốt chanh đến vỏ chanh sấy, bột hòa tan. Nhiều sản phẩm đã thay thế hàng nhập khẩu và có mặt tại Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu...

Hiện công ty không trực tiếp trồng chanh xanh mà thu mua từ nông dân và hợp tác xã trong vùng, giúp tiêu thụ hàng nghìn tấn mỗi năm. Doanh nghiệp tập trung phát triển chanh vàng, thử nghiệm sản phẩm mới rồi chuyển giao giống và kỹ thuật cho nông dân.

Anh Hiển thừa nhận, suốt gần 10 năm đầu, anh và những cộng sự chấp nhận thua lỗ để nghiên cứu công nghệ, hoàn thiện sản phẩm và tìm thị trường. “Tìm thị trường xuất khẩu giống như tìm một người bạn đồng hành lâu dài, phải kiên trì và đủ hiểu nhau”, anh Hiển nói.

Hai câu chuyện, hai con đường khác nhau, nhưng gặp nhau ở một điểm chung: không vội vàng, không chạy theo số lượng, chọn làm thật và làm đến cùng. Những cách làm lặng lẽ ấy đang mở ra hy vọng về một thế hệ doanh nghiệp dám đi chậm để đi xa, kiên trì chinh phục những thị trường khó tính bằng sự tử tế và bền bỉ

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nong-san-viet-di-xa-nho-hanh-trinh-ben-bi/411438.html