Núi Non Nước - Núi Thơ

Xưa kia, danh sỹ Trương Hán Siêu (thế kỷ XIV), một tác gia lớn thời Trần, khi đến núi này, đã làm bài thơ Dục Thúy Sơn và cho khắc bài thơ đó vào đá núi. Có lẽ, khi cho khắc bài thơ Dục Thúy Sơn vào núi đá, ông không biết rằng sau ông, có những danh sỹ, tao nhân mặc khách tiếp tục làm thơ về núi và khắc thơ vào đá núi. Việc khắc thơ vào đá núi Dục Thúy (núi Non Nước) từ đó đã thành một truyền thống văn hóa đặc sắc của vùng non nước Ninh Bình. Và ông được coi là người khai sinh ra truyền thống khắc thơ vào núi ở Ninh Bình.

Thơ khắc trên núi Non Nước. Ảnh: Ngọc Linh

Thơ khắc trên núi Non Nước. Ảnh: Ngọc Linh

Sau Trương Hán Siêu cho khắc bài thơ “Dục Thúy Sơn” (hiện nay không còn), các nhà vua và các tao nhân mặc khách nổi tiếng đã cho khắc nhiều thơ ở núi gồm: Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), vua Lê Hiến Tông (1461 – 1504), vua Lê Tương Dực ( 1455 – 1516), Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713 – 1789), Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm (1722 – 1784), Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805 – 1881), Phó bảng Bùi Văn Dị (1833 – 1895), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1834 – 1902) khắc 2 bài, Tiến sĩ Nguyễn Tái, Tuần phủ Ninh Bình Nguyễn Hữu Tường khắc 2 bài, Niết sứ Ninh Bình Nguyễn Đình Chuẩn khắc 2 bài, Tiến sĩ Từ Đạm (1862 – 1936) khắc 3 bài, nhà thơ Tản Đà (1888 – 1939), Phó bảng Từ Thiệp (1866 - ?), Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, Nguyễn Đình Giác, Tri phủ Yên Mô Phạm Huy Toại, Tuần phủ Ninh Bình Phan Đình Hòe (1876 – 1954), Tuần phủ Ninh Bình Bùi Thiện Cơ khắc 2 bài, Tuần phủ Quảng Yên Nguyễn Văn Đào, đặc biệt có một người Trung Quốc sống ở đời vua Càn Long là Phạm Bá Đàn cũng có thơ khắc ở núi.

Như vậy, hiện nay trên núi Dục Thúy chỉ có 30 bài thơ (30 bút tích thơ) được chạm khắc của 24 tác giả, trong đó gồm 23 bài thơ chữ Hán, một bài thơ chữ Nôm duy nhất của Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, 6 bài thơ chạm khắc chữ Quốc ngữ của 6 tác giả: Nguyễn Đình Chuẩn, Từ Đạm, Tản Đà, Từ Thiệp, Nguyễn Đình Giác, Phạm Huy Toại.

Trong 30 bài thơ, thì thời Trần có một bài thơ, thời Lê có sáu bài thơ, thời Nguyễn có 23 bài thơ được chạm khắc trên núi hiện còn. Có lẽ, tác giả cho chạm khắc thơ trên núi đầu tiên là Trương Hán Siêu, người cho chạm khắc thơ cuối là Phan Đình Hòe vào năm 1932.

Gọi là bài thơ thì phải còn nguyên vẹn. Trên vách núi còn có dòng lạc khoản của Nguyễn Tử Chấn, bia Hưng Tạo rất mờ, chữ mất nét và bia bài thơ “Nghìn xưa” bằng chữ Quốc ngữ, chưa rõ tác giả, chỉ còn một vài chữ, bị mảng bê tông vỡ rơi che khuất. Ba bút tích đó không gọi là bài thơ được. Các bài thơ chạm khắc trên núi chủ yếu theo thể thơ Thất ngôn bát cú và Tứ tuyệt.

Dĩ nhiên núi Dục Thúy còn có một số bài thơ chạm khắc nữa nhưng do thực dân Pháp phá núi xây dựng lô cốt trên núi, nên hiện nay không còn, chỉ còn 30 bài thơ mà thôi. Đó là điều đáng tiếc.

Theo một số sách chữ Hán xưa, còn ghi, thì 9 tác giả có 10 bài thơ chữ Hán được chạm khắc trên núi (hiện còn trên thác bản) là: Trương Hán Siêu, Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh Liệt, vua Thiệu Trị, Tiến sĩ Trương Quốc Dụng, Bùi Huy Tùng, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, Hoàng giáp Lê Hữu Thanh, Trần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chính có 2 bài. Trên núi Dục Thúy không tìm thấy 10 bài thơ này, vì đã mất bia do thực dân Pháp phá đỉnh núi xây lô cốt.

Ngoài ra, núi Dục Thúy còn được khắc bài “Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp ký” của Trương Hán Siêu viết vào năm 1343; Thánh chỉ của Thái Thượng Hoàng đế Trần Minh Tông khắc vào niên hiệu Thiệu Phong, năm Kỷ Sửu (1349) đời vua Trần Dụ Tông; các văn bản liên quan tới ruộng đất, địa giới, địa danh cổ; bia Cúng tiến, ruộng đất của hai Công chúa Huyền Tư và Huệ Thục; Bia Nhất kí Thiên Long tự thường trụ Tam Bảo vật (không còn trên núi đã rơi xuống chân núi, chỉ còn hai mảnh vỡ); Bia Bắc trường thập sào… (không còn trên núi, mảnh đá rơi xuống chân núi); Bia Tại hà dương hương… Như thế các bia chạm khắc văn xuôi hiện còn trên núi còn đọc được chỉ có khoảng 6 bài.

Ngoài nhiều bài thơ, bài văn khắc trên núi, còn có đến hàng trăm bài thơ cổ khác viết vịnh núi Dục Thúy của các ông vua và những thi nhân như: Trần Anh Tông, Thiệu Trị, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Ninh Tốn, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Quý Thứ, Trần Thiện Chính, Lê Hữu Thanh, Nguyễn Miên Thẩm, Vũ Duy Thanh, Vũ Phạm Khải, Đoàn Triển, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Tư Giản, Trần Văn Cận, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Đăng Quế, Nguyễn Can Mộng, Trần Tử Mẫn, Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Bang Hành, Hoàng Tạo, Phan Đình Hòe, Nguyễn Văn Thuật, Trần Thánh Tiến, Phạm Như Khuê, Vũ Tiến Cự, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Tử Dự, Ngô Vi Lâm. Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh, Trương Quốc Dụng, Trần Tư Thành, Ngô Thế Vinh, Lê Danh Đề, Đặng Thạch Hà, Bùi Huy Tùng, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Tái, Đặng Huy Xán, Lương Ngọc Dĩ, Lê Thị Tử, Ngô Thuần, Đạm Trai,… các tác giả khuyết danh .v..v.

Tất cả đã hội tụ về đây như đất lành chim đậu, mỗi tên gọi đều như những vì sao văn học dân tộc sáng lấp lánh trên bầu trời Văn hóa Việt Nam. Núi đã mài mòn nét bút của các hào kiệt, là Núi Thơ - Núi Ngọc hoặc mệnh danh là Bi Lâm ( Rừng bia). Một tuyển tập thơ của thiên nhiên có một không hai ở đất nước ta, chứa đựng những bài thơ hay trong bẩy thế kỷ qua. Không một ngọn núi nào trên đất nước Việt Nam có nhiều thơ khắc như ở núi Non Nước. Có lẽ, ở trên thế giới này cũng không có ngọn núi nào có 2 loại chữ Tiếng Việt và Tiếng Hán được khắc nhiều thơ như thế.

Núi hiện nay chỉ còn 30 bài thơ chạm khắc trên núi và khoảng 10 bài văn. Đó là chứng tích, là những bức thông điệp văn học vô giá - kí ức của núi - lưu truyền trường tồn cho các thế hệ mai sau, giữ hộ cho con người bao điều sáng chói diệu kì, đã tô điểm, trang trí thêm cho núi có phần cổ kính, trang nghiêm, trí tuệ và có hồn hơn. Đó cũng là giá trị văn hóa thể hiện tài năng sáng tạo, kĩ thuật tinh xảo, điêu luyện của các nghệ nhân khắc chữ Hán trên đá thời xưa.

Bất luận thời gian, trải qua bao độ phong sương, mưa nắng của đất trời, những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, nét chữ to, nét chữ nhỏ, được đặt trân trọng trong khung hay không, khắc trên các vách núi vẫn chưa mờ như những tác phẩm điêu khắc tạo hình hoàn chỉnh cho cái đẹp của núi, đã cuốn hút nhiều du khách đến ngoạn mục, lòng không muốn dời, chân không muốn bước, để chìm say trong cảnh núi sông tuyệt mĩ.

Mỗi bài thơ khắc ở núi đều có một nét riêng tỏa sáng như viên ngọc quý có nhiều màu làm cho núi càng tăng thêm kì ảo. Con chim trả khổng lồ ấy đã điểm trên thân và đôi cánh những bài thơ cổ bất hủ. Thơ khắc kín tất cả các sườn núi Non Nước, ở ngay cả những vách đá chênh vênh trên cao, dưới thấp. Những vách gấm này, đã vững trãi giữa trời mây, non nước bao la. Và vì vậy, con chim trả kiều diễm mang nặng thơ không bay đi đâu được, vẫn phải đậu mãi cho đến bây giờ.

Nếu tính tất cả các bút tích thơ và văn xuôi được chạm khắc trên các vách núi Non Nước dù ít chữ hay nhiều chữ, bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, có cả bàn chân phải của Từ Đạm thì số lượng bia có khoảng 55 bia đã được chạm khắc, trong số này có khoảng 15 bia đã mất, còn lại khoảng 40 bia, trong đó có 30 bài thơ, khoảng 6 bài văn xuôi, 3 bia nhỏ có ít chữ Hán và lốt bàn chân phải của Từ Đạm hiện còn trên núi.

Giá trị hệ thống tư liệu thơ, văn được điêu khắc trên đá núi Non Nước không chỉ nằm ở giá trị lịch sử hay văn chương mà còn là sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp các thế hệ sau nhận thức sâu sắc về những chặng đường lịch sử của cha ông đi trước còn lưu truyền lại đến ngày nay.

Vấn đề nhận diện, bảo tồn, phát huy và nâng tầm giá trị di sản này là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Các cấp, các ngành cần nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu đưa di sản này trở thành Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, góp phần khẳng định giá trị hệ thống di sản Ninh Bình trên bản đồ trong nước và quốc tế.

Lã Đăng Bật

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/non-nuoc-nui-tho-260627152455547.html