Nuôi biển công nghiệp, hiện đại: Động lực mới cho kinh tế An Giang
An Giang đang hướng tới chuyển đổi mô hình nuôi biển theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị sản phẩm và khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển.

Mô hình nuôi cá lồng trên biển tại đặc khu Kiên Hải, An Giang. (Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN)
Với không gian biển rộng 63.290km2, bờ biển dài trên 200km cùng hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ, An Giang có nhiều lợi thế để phát triển nuôi biển quy mô lớn.
Từ nền tảng sản xuất hiện có, tỉnh đang hướng tới chuyển đổi mô hình nuôi biển theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị sản phẩm và khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển.
Khai thác tiềm năng, mở rộng quy mô nuôi biển
Giai đoạn 2021-2026, sản lượng nuôi biển của An Giang tăng từ 69.269 tấn năm 2021 lên ước đạt 133.000 tấn năm 2026, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm. Tổng giá trị sản xuất nuôi biển trong giai đoạn này ước đạt 2.700 tỷ đồng.
Hai nhóm sản xuất chủ lực của tỉnh là nuôi cá lồng bè ven đảo và nuôi nhuyễn thể tại các bãi triều ven biển. Số lượng lồng bè tăng từ 3.612 lồng năm 2021 lên 6.115 lồng năm 2026, cung ứng khoảng 7.000 tấn cá đặc sản, với mức tăng trưởng 12,2%/năm.
Tỉnh đã thí điểm hỗ trợ 117 lồng nuôi bằng vật liệu HDPE, đồng thời ứng dụng quy trình VietGAP đối với cá mú trân châu, cá bớp và cá chim vây vàng.
Đối với nhuyễn thể, diện tích nuôi bãi triều ven biển dự kiến đạt 24.950 ha năm 2026, sản lượng 113.156 tấn. Nghề nuôi trai cấy ngọc tại Phú Quốc có diện tích 300ha, sản lượng khoảng 350.000 viên ngọc trai/năm, tạo thêm giá trị kinh tế gắn với du lịch và dịch vụ trải nghiệm.
Cùng với mở rộng sản xuất, tỉnh đã cấp 382 mã số nhận diện cơ sở nuôi lồng bè, tổ chức đào tạo kỹ thuật cho 2.670 lượt cán bộ và ngư dân. An Giang cũng chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp nuôi biển công nghệ cao, với tổng diện tích hơn 2.908ha và tổng vốn đầu tư 1.116 tỷ đồng.
Đáng chú ý, tỉnh đã bàn giao 420ha mặt biển tại đặc khu Kiên Hải cho Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam thực hiện dự án nuôi biển công nghiệp công suất 30.000 tấn/năm, với vốn đầu tư 400 tỷ đồng. Đây là doanh nghiệp đầu tiên trên cả nước được giao khu vực biển theo Luật Thủy sản năm 2017.

Mô hình nuôi cá lồng trên biển tại đảo Hòn Tre, đặc khu Kiên Hải, An Giang. (Ảnh: Văn Sỹ/TTXVN)
Trong danh mục thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030, tỉnh xác định 8 dự án nuôi biển trọng điểm, tổng diện tích 2.480ha, với vốn mời gọi 1.730 tỷ đồng.
Mặc dù đạt kết quả tích cực, nuôi biển của An Giang vẫn còn những hạn chế. Phần lớn cơ sở nuôi có quy mô nhỏ, sử dụng lồng bè gỗ, phụ thuộc nhiều vào cá tạp làm thức ăn.
Chi phí con giống và thức ăn cao, giá bán thiếu ổn định, trong khi liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa chặt chẽ. Công tác xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế; khả năng tiếp cận tín dụng phục vụ chuyển đổi công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, triều cường và hiện tượng tảo nở hoa đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn cho các công trình nuôi. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để tạo nền tảng cho bước chuyển từ nuôi biển phân tán sang sản xuất công nghiệp.
Công nghệ và chuỗi giá trị tạo động lực chuyển đổi
Một trong những hướng đi quan trọng là hình thành các vùng nuôi tập trung, có hạ tầng đồng bộ và phương thức tổ chức sản xuất chuyên nghiệp. Mô hình làng nuôi biển hiện đại có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, cung ứng dịch vụ đầu vào và tổ chức tiêu thụ; ngư dân, hợp tác xã tham gia sản xuất trên cơ sở sử dụng chung hạ tầng, tuân thủ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Cách tổ chức này giúp giảm chi phí đầu tư riêng lẻ, thuận lợi cho kiểm soát chất lượng và hình thành sản lượng hàng hóa lớn. Để triển khai hiệu quả, An Giang cần xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với từng đối tượng nuôi; đồng thời xác định rõ trách nhiệm quản lý môi trường, an toàn công trình và hoạt động sản xuất tại mỗi vùng nuôi.
Ứng dụng khoa học-công nghệ cần tập trung vào những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và rủi ro. Việc sử dụng lồng nuôi HDPE có khả năng chịu sóng gió tốt, cải tiến quy trình nuôi, tăng cường quan trắc môi trường và quản lý vùng nuôi theo sức tải sinh thái sẽ góp phần giảm thiệt hại do thời tiết, dịch bệnh. Cùng với đó là nghiên cứu thay thế thức ăn cá tạp, chủ động nguồn giống và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Cá bớp có giá trị kinh tế cao được ngư dân ven biển, đảo tỉnh An Giang thả nuôi phổ biến. (Ảnh: Văn Sỹ/TTXVN)
An Giang có thể đa dạng hóa đối tượng nuôi theo lợi thế sinh thái và nhu cầu thị trường. Bên cạnh cá mú, cá bớp, cá chẽm, cá chim vây vàng, các loài có tiềm năng gồm cầu gai sọ dừa, ghẹ xanh Hàm Ninh, mực An Thới, tôm hùm, hải sâm, rong đỏ Hải Tùng và các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Việc lựa chọn đối tượng cần đi đôi với đánh giá điều kiện môi trường, khả năng tiếp nhận công nghệ và hiệu quả đầu ra, tránh phát triển tự phát.
Khâu tiêu thụ cũng cần được đặt trong tổng thể tổ chức sản xuất. Liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp cung ứng đầu vào, cơ sở chế biến và đơn vị xuất khẩu sẽ giúp nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm đặc trưng, phát triển chế biến sâu và mở rộng kênh tiêu thụ là những giải pháp quan trọng để nâng giá trị gia tăng thay vì chỉ tăng sản lượng.
Đồng thời, tỉnh cần có cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư dài hạn, hỗ trợ tín dụng và chuyển giao công nghệ cho các cơ sở nuôi đủ điều kiện. Đào tạo nhân lực kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã và tăng cường kết nối giữa cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp sẽ giúp rút ngắn quá trình đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Mục tiêu năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045
Đến năm 2030, An Giang đặt mục tiêu tổng sản lượng nuôi biển đạt 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai. Tỉnh định hướng phát triển 14.000 lồng nuôi, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao, với sản lượng dự kiến đạt 99.000 tấn.
Diện tích nuôi nhuyễn thể phấn đấu đạt 26.900ha, sản lượng 151.000 tấn, gồm các đối tượng như sò, hàu, trai ngọc, vẹm xanh, ốc hương và những loài phù hợp khác.
Giá trị sản xuất nuôi biển dự kiến đạt 19.487 tỷ đồng theo giá hiện hành, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 24,3%/năm, tạo việc làm cho hơn 47.000 lao động.

Nuôi vẹm xanh trên vùng biển bãi bồi xã Vân Khánh (An Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Về không gian phát triển, các khu vực hải đảo Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu, Tiên Hải, Sơn Hải và Hòn Nghệ được định hướng trở thành địa bàn trọng điểm nuôi cá biển công nghiệp bằng lồng bè tròn vật liệu HDPE. Các đối tượng chủ lực gồm cá mú, cá bớp, cá chẽm và cá chim vây vàng; kết hợp nuôi ngọc trai, ốc hương, tôm hùm xanh, bào ngư, trồng rong biển và phát triển du lịch trải nghiệm.
Tại vùng bãi triều ven biển từ Vân Khánh, Đông Hưng, Tân Thạnh, Tây Yên, Hòn Đất đến Kiên Lương, Tô Châu, trọng tâm là phát triển các loài nhuyễn thể như sò huyết, hàu đại dương, vẹm xanh, nghêu lụa và sò lông. Việc bố trí vùng nuôi phải gắn với bảo vệ rừng ngập mặn phòng hộ, duy trì các bãi đẻ tự nhiên và hạn chế tác động đến hệ sinh thái ven bờ.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng, phát triển nuôi biển không chạy theo diện tích hay sản lượng, không đánh đổi môi trường lấy lợi ích trước mắt. Hiệu quả cần được đánh giá thông qua giá trị gia tăng, sức chịu tải của môi trường, mức độ an toàn của hạ tầng và sự hài hòa giữa “Ngư dân-Ngư nghiệp-Ngư trường.” Đây cũng là cơ sở để phát triển nghề cá có trách nhiệm, gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo và nỗ lực tháo gỡ thẻ vàng IUU.
Tầm nhìn đến năm 2045, An Giang hướng tới trở thành trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững của tỉnh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Để đạt mục tiêu này, yêu cầu đặt ra là kết hợp hiệu quả giữa quy hoạch không gian biển, đầu tư công nghệ, phát triển thị trường và bảo vệ hệ sinh thái.
Khi các khâu từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến chế biến và tiêu thụ được tổ chức đồng bộ, nuôi biển có thể trở thành ngành kinh tế tạo giá trị gia tăng cao, góp phần ổn định sinh kế cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững./.

