Nuôi ong ở rừng ngập mặn Xuân Thủy: Sinh kế xanh từ tán sú vẹt

Nuôi ong lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy (Ninh Bình) tạo thêm thu nhập ổn định cho người dân địa phương, nhờ nghề quay mật thời vụ.

Cánh rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy.

Cánh rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy.

Nuôi ong lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy (Ninh Bình) không chỉ giúp các chủ ong vươn lên làm giàu, mà còn tạo thêm thu nhập ổn định cho người dân địa phương nhờ nghề quay mật thời vụ.

Rộn ràng mùa ong lấy mật

Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu vực bãi bồi rộng lớn nằm ở phía Nam cửa sông Hồng, có tổng diện tích 15.100ha, được chia thành hai vùng: Vùng lõi (7.100ha) và vùng đệm (8.000ha).

Đây là khu Ramsar đầu tiên ở Đông Nam Á (theo Công ước Ramsar về bảo vệ những vùng đất ngập nước), đồng thời là vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới đất ngập nước liên tỉnh ven biển châu thổ sông Hồng.

Nhờ đặc điểm địa lý của vùng đất cửa sông ven biển, nơi đây đã trở thành khu dự trữ thiên nhiên quý giá với nhiều sinh cảnh độc đáo, được bao quanh bởi những cánh rừng sú vẹt rộng lớn.

Không chỉ đóng vai trò như một “lá chắn xanh” tự nhiên phòng chống thiên tai, những cánh rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy còn là nguồn sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Một trong những mô hình làm giàu nổi bật ở đây là nuôi ong lấy mật dưới tán rừng ngập mặn.

Tháng 4 đến tháng 8 hằng năm, khi cánh rừng sú vẹt bạt ngàn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy vào mùa nở hoa, người nuôi ong khắp nơi lại đưa các thùng ong về đây để khai thác mật, cho ra đời sản phẩm mật ong sú vẹt thơm dịu, ngọt thanh và giàu khoáng chất.

Điểm đặc biệt của mô hình nuôi ong dưới tán rừng sú vẹt là tính bền vững và mối quan hệ tương hỗ với thiên nhiên. Việc khai thác mật ong không làm tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên mà ngược lại, còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân. Bởi lẽ, khi có nguồn thu nhập ổn định từ rừng, người dân càng có động lực để chủ động chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái ven biển.

Tuy nhiên, để nuôi ong đạt hiệu quả kinh tế cao, người nuôi phải nắm bắt kịp thời diễn biến thời tiết và hiểu rõ tập tính của đàn ong để có cách chăm sóc phù hợp. Từ đầu tháng 4, khu vực đê gần những cánh rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy bắt đầu nhộn nhịp hơn hẳn. Các chủ ong hối hả di chuyển đàn ong của mình tới những vị trí thuận lợi, nằm sát tán rừng sú vẹt để khai thác mật.

Tận dụng lợi thế tự nhiên của cánh rừng sú vẹt rộng hàng nghìn ha, người nuôi ong không phải tốn chi phí trồng cây hay tạo nguồn hoa cho ong. Nhờ tối ưu được chi phí đầu vào, mỗi năm các hộ nuôi ong có thể thu lãi hàng trăm triệu đồng, tùy thuộc vào quy mô đàn ong và độ tiết mật của hoa.

Theo các hộ nuôi ong lâu năm, sú vẹt là loại cây mọc ở ven biển, có đặc tính sống nửa nước nửa cạn. Khi thủy triều lên, gần như toàn bộ phần thân cây bị nước biển nhấn chìm; khi thủy triều xuống, phần gốc lại trơ ra. Chính điều kiện sống khắc nghiệt ấy đã tạo nên một loài hoa rất đặc biệt.

Hoa sú vẹt nở tự nhiên, không chịu tác động của phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật nên mật ong thu được không những sạch, thơm, mà còn rất bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe. Cũng bởi chất lượng vượt trội của loại mật ong này, mỗi khi vào vụ quay mật, các thương lái trong và ngoài tỉnh đều tìm đến tận nơi thu mua.

Mô hình nuôi ong lấy mật cạnh tán rừng ngập mặn.

Mô hình nuôi ong lấy mật cạnh tán rừng ngập mặn.

Nhọc nhằn nhưng ngọt vị thành quả

Anh Nguyễn Văn Khánh (xã Giao Phúc, Ninh Bình) cho biết, anh “khởi nghiệp” nuôi ong đã được hơn 10 năm. So với làm nông nghiệp truyền thống, nghề nuôi ong đem lại thu nhập cao hơn rất nhiều.

Khi mới vào nghề, anh chỉ mua vài thùng ong để nuôi thử. Do thiếu kinh nghiệm chăm sóc nên thu được rất ít mật, ong lại bị chết nhiều. Dù vậy, anh không nản chí mà kiên trì học hỏi, quan sát và rút kinh nghiệm từ những lần thất bại. Dần dần, anh hiểu tập tính loài ong, biết cách chăm sóc để thu được nhiều mật hơn và quyết định nâng số đàn ong lên.

Từ kinh nghiệm thực tế, anh Khánh nhận thấy việc lựa chọn giống ong đóng vai trò quyết định. Do đó, anh đã chuyển sang nuôi giống ong ngoại (ong Ý) bởi chúng có sức đề kháng cao, ít bệnh tật, khả năng phát triển thế đàn tốt và cho sản lượng mật cao hơn rõ rệt so với giống ong nội. Đến nay, sau 10 năm gắn bó với nghề, từ vài thùng ong ban đầu, anh Khánh đã phát triển lên hàng trăm đàn, cho thu nhập khoảng 300 triệu đồng mỗi năm.

Mùa hoa sú vẹt năm nay, anh Khánh đưa khoảng 130 đàn ong về Vườn quốc gia Xuân Thủy để lấy mật. “Giá mật ong sú vẹt hầu như không biến động nhiều. Giá mật thô thường dao động khoảng 60.000 - 70.000 đồng/kg, song mật bán rất nhanh, khai thác đến đâu được người dân và thương lái thu mua hết đến đấy”, anh Khánh phấn khởi cho biết.

Cũng là một người thường xuyên đưa đàn ong về Vườn quốc gia Xuân Thủy để lấy mật, anh Nguyễn Văn Tùng (trú tại xã Giao Hòa) chia sẻ, mùa hoa năm nay, anh đặt 700 đàn ong dọc con đường nhỏ trong vùng lõi Vườn quốc gia, nơi gần những tán sú vẹt phủ xanh ngút ngàn và nở hoa dày đặc nhất. Việc đặt ong ở vị trí thuận lợi giúp đàn ong đỡ phải di chuyển xa, lấy mật hiệu quả hơn mà người nuôi cũng không cần bổ sung thêm thức ăn ngoài.

Theo anh Tùng, mỗi mùa hoa sú vẹt, người nuôi ong sẽ thu hoạch mật từ 5 - 8 lần. Tuy nhiên, năm nay thời tiết không thuận lợi, hoa sú vẹt nở muộn và tiết mật kém hơn, khiến sản lượng mật ong giảm hẳn.

Sau khi hút mật từ hoa, ong sẽ nhả mật trong cầu ong rồi đắp kín miệng. Đợi khi cầu ong kín mật, thợ sẽ bỏ cầu vào thùng vắt mật. Để thu được mật ong đạt chất lượng cao, vừa giữ trọn hương vị tự nhiên, vừa không ảnh hưởng đến sức đàn, người nuôi ong thường chọn thời điểm từ 5 - 9 giờ sáng để quay mật. Đây là lúc ong thợ đã bắt đầu ra khỏi tổ tìm hoa, nhiệt độ thời tiết còn mát mẻ, mật trong cầu đạt độ sánh vừa phải và dễ thu hoạch nhất.

Mỗi lần thu hoạch, chủ ong sẽ thuê đội thợ tại địa phương từ 10 - 12 người để tiến hành lấy mật, quay mật, với giá công lao động từ 300.000 - 400.000 đồng/người/buổi. Để thu hoạch mật ong, những người thợ sẽ được trang bị đầy đủ mũ lưới và găng tay bảo hộ.

Đội thợ mỗi người một việc: Một người mở nắp thùng ong để kiểm tra các cầu ong; một người khác hun khói nhằm làm dịu bầy ong, sau đó nhấc từng cầu ong lên lắc nhẹ để phần lớn bầy ong bay đi. Những con ong còn kiên trì bám trụ lại sẽ được thợ ong gạt xuống. Từng cầu ong được đưa về điểm tập trung cắt nắp và cho vào thùng quay ly tâm, cho ra những giọt mật sánh vàng, ngọt lịm.

Cả mùa hoa sú vẹt năm nay, với 700 đàn ong, gia đình anh Tùng thu hoạch được khoảng hơn 10 tấn mật ong. Với giá bán mật thô dao động ở mức 60.000 - 70.000 đồng/kg, anh thu về trên 600 triệu đồng.

Sau khi trừ chi phí vận chuyển đàn ong, thuê người hỗ trợ quay mật, thức ăn bổ sung cho ong và các vật dụng phục vụ khai thác, gia đình anh vẫn lãi hàng trăm triệu đồng mỗi mùa hoa. Cũng nhờ nghề nuôi ong lấy mật, cuộc sống gia đình anh khá giả hơn trước rất nhiều.

Theo anh Tùng, tuy nghề nuôi ong mang lại thu nhập khá, nhưng không phải ai cũng theo đuổi được, bởi công việc này đòi hỏi sự cần cù, chịu khó và phải liên tục di chuyển theo mùa hoa. Sau mỗi mùa hoa tàn, người nuôi lại tất tả đưa đàn ong “di cư” đến vùng đất khác - nơi có nguồn hoa dồi dào hơn để tiếp tục khai thác mật.

Ong lại là loài vật rất nhạy cảm với thời tiết, dễ nhiễm bệnh nên mỗi ngày, người nuôi phải kiểm tra từng thùng để đánh giá sức khỏe đàn ong, xem chúng có phát triển tốt và thu đủ lượng phấn hoa cần thiết hay chưa. Nếu thức ăn ngoài tự nhiên không đủ, người nuôi sẽ phải bổ sung thức ăn cho ong.

Bên cạnh việc nắm vững tập tính để chăm sóc đàn ong khỏe mạnh, người nuôi còn cần không ngừng học hỏi, cập nhật kỹ thuật mới và tìm kiếm những mô hình hiệu quả để áp dụng vào thực tế.

Việc thu hoạch mật ong thường được thực hiện vào giữa buổi sáng.

Việc thu hoạch mật ong thường được thực hiện vào giữa buổi sáng.

Người thợ nhấc khay mật, giũ ong trước khi đưa vào khu xử lý.

Người thợ nhấc khay mật, giũ ong trước khi đưa vào khu xử lý.

Khay mật sau khi xử lý được đưa vào máy quay ly tâm để lấy mật.

Khay mật sau khi xử lý được đưa vào máy quay ly tâm để lấy mật.

Sản lượng mật ong mỗi năm ước đạt từ 70 đến 100 tấn.

Sản lượng mật ong mỗi năm ước đạt từ 70 đến 100 tấn.

Sinh kế xanh

Ông Vũ Quốc Đạt, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy, cho biết những năm qua, rừng ngập mặn đã tạo sinh kế bền vững cho các chủ ong và người dân địa phương. Mùa hoa sú vẹt năm nay, có gần 20 chủ ong đưa khoảng 8.000 đàn ong về lấy mật. Sản lượng mật ong mỗi năm ước đạt từ 70 đến 100 tấn (tùy tình hình thời tiết); với giá mật ong như hiện nay sẽ đem lại cho những người nuôi ong thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng mỗi vụ.

Để bảo đảm chất lượng mật ong, Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy đã ban hành các quy định khai thác mật theo quy chuẩn, đồng thời khuyến khích người nuôi và các chủ cơ sở chế biến áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy cho biết thêm, nhằm giúp người nuôi ong thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản phẩm, những năm qua, Vườn quốc gia Xuân Thủy đã phối hợp cùng chính quyền địa phương tăng cường quảng bá, giới thiệu các sản phẩm OCOP mật ong Vườn quốc gia thông qua các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh, giúp sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng.

Vườn quốc gia Xuân Thủy đã xây dựng và phát triển thương hiệu Mật ong Vườn quốc gia Xuân Thủy đạt chứng nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh. Nhiều hộ dân trên địa bàn đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về nuôi ong và chế biến mật, được tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm. Vườn quốc gia cũng sẵn sàng chia sẻ quyền sử dụng nhãn hiệu cho người dân, khuyến khích các hộ nuôi ong tham gia chuỗi liên kết nhằm nâng cao hình ảnh và giá trị sản phẩm, góp phần nâng cao thu nhập.

Vân Anh

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/nuoi-ong-o-rung-ngap-man-xuan-thuy-sinh-ke-xanh-tu-tan-su-vet-post775497.html