Những di sản sống của làng nghề
Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)
Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó. Vì thế, cũng có những con người không chấp nhận để ký ức ấy phai nhạt. Họ lần tìm, chắp nối và đánh thức lại những gì tưởng đã thuộc về quá khứ, để rồi từ đó, những di sản không chỉ được hồi sinh, mà còn tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay, theo một cách khác.
Câu chuyện của Ngô Quý Đức và Nguyễn Công Đạt, từ làng Chuồn, tên chữ là An Truyền (Huế) đến Thanh Liễu (Hải Phòng), là một mạch nối như thế.
Người đi tìm di sản
Để tổ chức thành công hai buổi giới thiệu liễn (liễn ở đây là tên gọi chung cho các tấm giấy hồng điều dùng để viết chữ, câu đối trang trí trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán) làng Chuồn tại Huế vào đầu tháng 1 và tại Hà Nội vào đầu tháng 2 vừa qua, ít ai biết rằng Đức đã “chuyển hộ khẩu” từ Hà Nội vào Huế trong hơn một năm qua. Đó như là một mối duyên được định sẵn cho chàng trai sinh năm 1985 khi anh tìm về với Huế sau nhiều tháng đi dọc miền trung tìm hiểu, khám phá các làng nghề vào năm 2022. Đức cuối cùng đã dừng chân trước cửa Ngự Hà Viên. Ở đây, anh không chỉ nhìn thấy một di sản kiến trúc mà còn cảm nhận được tiếng lòng, sự gửi gắm và ước mơ còn dang dở của cố nghệ nhân, “vua nhà rường” Dương Đình Vinh. Ngự Hà Viên sau đó được tái sinh và mang những sứ mệnh mới mà Đức ấp ủ bao năm qua.
Theo Đức, Huế thật sự là mảnh đất giúp anh có thể gây dựng lại tinh hoa của các nghề thủ công của Việt Nam. Vùng đất Cố đô từng tự hào sở hữu ba dòng tranh dân gian nổi tiếng: Tranh làng Sình, liễn làng Chuồn và tranh làng Tây Hồ. Có điều, thời gian và những biến thiên của lịch sử thật nghiệt ngã. Dòng tranh làng Tây Hồ đã biến mất hoàn toàn hơn 80 năm qua. Trong khi đó, liễn làng Chuồn cũng mai một hơn 10 năm sau khi nghệ nhân cuối cùng là ông Huỳnh Lý nằm xuống. Chỉ có tranh làng Sình là may mắn hơn cả, nhưng sự may mắn ấy cũng thật mong manh chỉ còn nghệ nhân Kỳ Hữu Phước, để thấy được sự tiếc nuối lớn đến mức nào.
Vì thế, dự án hồi sinh liễn làng Chuồn khi bắt đầu thật sự khó khăn do không còn nghệ nhân, không còn mộc bản gốc. Đức và các cộng sự đã phải nhiều lần về các làng nghề tranh dân gian khác (Hàng Trống, Đông Hồ, Kim Hoàng, Sình) để gom, chắp nối các mảnh vụn ký ức còn sót lại đâu đó. Và đầu tháng 1/2026, bộ mộc bản mà Đức và các nghệ nhân làng khắc in mộc bản Thanh Liễu phục dựng được công bố, với bức đại tự chữ “Phúc” lồng ghép họa tiết tứ linh (long, lân, quy, phụng) cùng cặp câu đối “Thiên địa tam dương thái/Càn khôn vạn sự xuân” trên nền gỗ thị vàng óng, những đường khắc tinh tế đến từng chi tiết.
Theo Đức, dự án không chỉ khôi phục một sản phẩm thủ công mà còn lấp đầy những khoảng trống ký ức văn hóa của Huế, để các di sản như liễn Chuồn và xa hơn có thể là tranh Tây Hồ, được hồi sinh, rực rỡ như vốn có. Anh nhấn mạnh, di sản không nên chỉ nằm trong bảo tàng hay trong những hoài niệm tiếc nuối. Quan điểm này cũng được Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế Phan Thanh Hải chia sẻ: Liễn làng Chuồn cần được đưa vào đời sống, phát huy giá trị trong dòng chảy đương đại, thay vì chỉ dừng ở phục hồi.
Người mang di sản đi
Nếu Đức chọn cách ở lại một vùng đất để lần tìm lại những gì đã mất, thì ở Thanh Liễu, Nguyễn Công Đạt lại chọn một con đường khác: Đi. Đi, như dấu chân của cụ tổ nghề Lương Như Hộc (1420-1501) sang sứ Trung Quốc và truyền lại nghề khắc mộc bản cho ba làng Hồng Lục, Liễu Tràng và Khuê Liễu. Đi, như cách mà những người thợ xưa của làng từng làm. Và đi, một phần để mưu sinh, một phần để giữ cho nghề không bị bó hẹp trong một không gian chật hẹp của làng. Theo chàng trai sinh năm 1992, có đến 20 năm làng nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu không được nhắc đến khi máy móc dần thay thế đôi bàn tay khéo léo của những người thợ. Hình ảnh đấy hoàn toàn trái ngược với việc Hồng Lục trước đây, Thanh Liễu bây giờ, từng là trung tâm in ấn của nước ta trong 5 thế kỷ cho đến trước năm 1945.
May mắn cho Đạt là anh lớn lên và biết làng mình có nghề khắc in mộc bản. Thậm chí, từ bé, anh được nhìn các bậc cha chú khắc ván in chữ, con dấu và tranh. Với niềm yêu thích mỹ thuật nên anh quyết định chọn học chuyên ngành thiết kế nội thất của Trường đại học Mở (Hà Nội) và hoàn toàn không nghĩ một ngày nào đó, mình có thể hồi sinh làng nghề.
Với mong muốn tìm hiểu hơn nghề khắc mộc bản, Đạt đã vào Văn Miếu-Quốc Tử Giám để xem bia nào ghi danh cụ tổ nghề Lương Như Hộc, rồi lịch sử nghề in ấn của làng và tên tuổi các nghệ nhân trước đây. Năm 2010, anh chính thức bước vào nghề, ban đầu chỉ là tự khắc những con dấu nhỏ đóng vào tranh… Năm 2015, anh ra trường và về làng làm những công việc như vẽ tranh, làm tiểu cảnh, khắc dấu.
Bên cạnh đó, anh tiếp tục tìm kiếm thông tin về làng nghề, sưu tầm những tư liệu liên quan. Sau vài năm gặp gỡ các nhà sử học và đề nghị tỉnh Hải Dương, mong mỏi làm rõ lịch sử làng nghề của Đạt đã thành công khi Thanh Liễu được công nhận là làng nghề truyền thống. Năm 2024, anh kết hợp với Đức để tổ chức chương trình “Mộc bản Thanh Liễu - Hành trình hồi sinh một làng nghề” tại Phường Bách Nghệ (Trung tâm Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng sản phẩm làng nghề Việt).
Có thể nói, sự kết hợp giữa Đức và Đạt là sự gặp gỡ của hai dòng chảy, một bên đang cố gắng tìm lại ký ức, một bên đã bắt đầu giữ được mạch sống của nghề. Nhờ đó, từ những ván khắc, từ kỹ thuật sử dụng dao ngang, từ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, người thợ Thanh Liễu đã góp phần giúp liễn làng Chuồn hồi sinh bằng phiên bản hoàn chỉnh gồm năm tấm (mới bổ sung hai bức “Hạc ngự lưng quy”).
Nghệ nhân không chỉ là người làm nghề mà còn là di sản sống, thể hiện ở các yếu tố kiến tạo bản sắc, đồng hành, tri ân, trách nhiệm và giữ gìn bản sắc.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị An, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội
Điều thú vị là một vòng lặp lặng lẽ đang diễn ra. Hơn 500 năm trước, người Thanh Liễu mang nghề đi khắp nơi để mưu sinh, tạo ra ba khối mộc bản được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương là mộc bản triều Nguyễn, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và mộc bản trường học Phúc Giang; bốn bảo vật quốc gia hay tham gia khắc in bộ tranh dân gian trong bộ sách Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger thì nay, những người thợ trẻ lại mang nghề đi, vừa làm ra sản phẩm, vừa góp phần đánh thức những làng nghề khác.
Và cũng từ đó, câu chuyện của Thanh Liễu không còn dừng lại ở việc một làng nghề hồi sinh. Nó trở thành câu chuyện về cách một di sản sống tiếp - bằng việc được trao đi, được tiếp nhận, rồi lại được hồi sinh ở một nơi khác, trong một hình hài mới, nhưng vẫn giữ được cốt cách của cha ông. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị An, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, nghệ nhân không chỉ là người làm nghề mà còn là di sản sống, thể hiện ở các yếu tố kiến tạo bản sắc, đồng hành, tri ân, trách nhiệm và giữ gìn bản sắc.
Khi nói về chặng đường phía trước, Đạt không nhấn vào kế hoạch hay bộ tranh cụ thể. Điều anh quan tâm là làm sao để ván khắc không nằm trong tủ kính, mà trở lại đúng chức năng: được in, được sử dụng, hiện diện trong đời sống thường ngày. Cũng như Đức chọn ở lại Huế để lần tìm ký ức làng nghề, Đạt và các nghệ nhân Thanh Liễu tiếp tục những chuyến đi, mang theo kỹ thuật và tinh thần của nghề đến nhiều nơi. Có lẽ, đó cũng là cách tự nhiên nhất để một di sản tồn tại, không phải bằng sự lưu giữ nguyên vẹn trong ký ức, mà bằng việc vẫn còn được con người hôm nay chạm vào và mang theo trong đời sống của mình.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nhung-di-san-song-cua-lang-nghe-post959694.html











