Ðổi mới tư duy về giảm nghèo bền vững trong kỷ nguyên mới
Nhìn lại những thành tựu phát triển của đất nước, công tác xóa đói giảm nghèo luôn là chủ trương lớn, xuyên suốt của Ðảng, Nhà nước và đạt được những kết quả to lớn. Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, công tác giảm nghèo không thể dừng lại ở việc bảo đảm những nhu cầu tối thiểu hay sự hỗ trợ mang tính thời điểm. Ðã đến lúc chúng ta cần một bước chuyển đổi mang tính cách mạng, toàn diện, đồng bộ từ tư duy 'trợ cấp, bao cấp' sang tư duy 'giải phóng nội lực', đưa công tác giảm nghèo thành nền tảng trụ cột, kiến tạo giá trị phát triển trong hành trình xây dựng cuộc sống giàu đẹp, hạnh phúc và văn minh cho từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội.
Xây dựng hệ nhận thức mới về giảm nghèo bền vững
Sự cản trở lớn nhất đối với mục tiêu giảm nghèo bền vững hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt chính sách hay nguồn lực, mà căn cốt nhất chính là tâm lý trông chờ, thụ động và khoán trắng nhiệm vụ cho hệ thống chính trị. Việc thực hiện các chính sách an sinh thời gian qua đã vô tình tạo ra tâm lý ì trệ nơi một bộ phận người nghèo. Không ít trường hợp xem việc nhận hỗ trợ là hiển nhiên, thậm chí chấp nhận mang danh nghèo để thụ hưởng chính sách. Muốn bứt phá, trước hết phải dũng cảm xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp trong nhận thức. Giảm nghèo không phải là việc cho “con cá” hay “cần câu”, mà là tạo dựng một “hệ sinh thái” để người dân có đầy đủ cơ hội tự làm chủ cuộc đời và quyết định tương lai của chính mình.
Trong tâm thế mới đó, cốt lõi của bước chuyển tư duy chính là việc hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIV của Ðảng với 5 “tự” cốt lõi: “tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự tin, tự hào”. Ở mỗi người dân, tự chủ là khả năng tự quyết định mô hình sinh kế của gia đình. Tự lực là tinh thần vươn lên bằng chính đôi tay và trí óc, coi sự nỗ lực cá nhân là quyết định. Tự cường đại diện cho khả năng đứng vững trước thiên tai, dịch bệnh hay các biến cố đời sống. Tự hào là niềm hãnh diện khi chính thức rút tên khỏi danh sách hộ nghèo bằng thành quả lao động chân chính. Cuối cùng, tự tin là tâm thế bình đẳng, chủ động hòa nhập vào dòng chảy kinh tế hiện đại, đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước. Khi “5 tự” trở thành ý thức tự giác, việc vươn lên làm giàu không còn là áp lực từ bên trên, mà trở thành nhu cầu tự thân mãnh liệt.

Tranh: MINH TẤN
Giải phóng nội lực, kiến tạo phát triển từ công tác giảm nghèo
Hành trình giải phóng nội lực và lan tỏa tinh thần “5 tự” kết nối chặt chẽ với các nền tảng chiến lược từ các nghị quyết của Bộ Chính trị. Trong đó, Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa giữ vai trò là “hệ điều hành” nhận thức và tư tưởng. Văn hóa mới không chỉ là đời sống tinh thần, mà chính là cốt cách, bản lĩnh, lòng tự trọng của con người Việt Nam. Một cộng đồng giàu có về văn hóa và lòng tự trọng sẽ không chấp nhận sự thụ động, ỷ lại và cam chịu trước đói nghèo. Văn hóa mới phải khơi dậy khát vọng cống hiến, biến việc tự lực thoát nghèo thành một chuẩn mực đạo đức và lối sống văn minh trong từng làng xã, phum sóc.
Song hành với văn hóa là nền tảng sức khỏe được định hình bởi Nghị quyết số 72 về chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Nghèo đói và bệnh tật vốn là vòng xoáy quẩn quanh bế tắc, chi phí y tế khổng lồ có thể dễ dàng hủy hoại tài sản tích lũy của một gia đình. Do đó, củng cố y tế cơ sở, nâng cao thể lực và tầm vóc người dân chính là giải pháp căn cơ để bảo toàn “vốn tài sản con người”. Khi có thể chất khỏe mạnh, mỗi cá nhân mới có đủ sức bền để học tập, lao động, thích ứng và vươn lên.
Ðặc biệt, để chuyển hóa khát vọng văn hóa và sức mạnh thể chất thành năng lực phát triển, Nghị quyết số 71 về giáo dục và đào tạo giữ vai trò là nền tảng, động lực trung tâm. Tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định giáo dục là chìa khóa vàng của sự nghiệp cách mạng, bồi dưỡng thế hệ tương lai vừa “hồng” vừa “chuyên”. Giáo dục trong kỷ nguyên mới là quá trình khai phóng trí tuệ, định hình năng lực tư duy độc lập, trang bị kỹ năng và nhận thức cần thiết cho mỗi cá nhân. Ðây là đòn bẩy căn cơ nhất để chặt đứt chuỗi “nghèo đói truyền đời”. Khi giáo dục được đổi mới căn bản và toàn diện, mỗi người dân sẽ sở hữu “năng lực tự học, tự thích ứng”, chuyển hóa tư duy từ “chờ đợi giúp đỡ” sang “chủ động tìm kiếm cơ hội”, ứng dụng tri thức và chuyển đổi số vào sản xuất để tự thoát nghèo bền vững.
Khi nền tảng giáo dục vững chắc được thiết lập, Nghị quyết số 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò là đòn bẩy tạo nên sự bứt phá về năng suất lao động. Trong kỷ nguyên số, giảm nghèo không thể dựa vào phương thức sản xuất truyền thống, manh mún. Phổ cập tri thức khoa học và ứng dụng công nghệ đến tận tay người dân sẽ giúp họ thay đổi cung cách lao động sản xuất, tiếp cận thông tin thị trường và xây dựng mô hình sinh kế hiệu quả.
Quan niệm thiếu tư liệu sản xuất không còn là nguyên nhân cốt yếu của nghèo đói; sự thiếu hụt về sức khỏe (Nghị quyết số 72), văn hóa (Nghị quyết số 80), giáo dục (Nghị quyết số 71) và khoa học công nghệ (Nghị quyết số 57) mới là lực cản lớn nhất. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh văn hóa, thể trạng nguồn nhân lực, trí tuệ sáng tạo và tri thức công nghệ tạo nên phương thức tổng hòa đồng bộ nhất để xóa nghèo bền vững.
Hành động thực chất, hiệu quả và sức mạnh lan tỏa
Ðể chủ trương, chính sách giảm nghèo của Ðảng, Nhà nước và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị nhanh chóng đi vào cuộc sống, tổ chức bộ máy thực thi đóng vai trò quyết định. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã thể hiện tính ưu việt rõ nét. Việc tinh gọn bộ máy giúp chính sách đi thẳng từ nơi ban hành đến tận người dân một cách nhanh chóng, minh bạch, loại bỏ hiện tượng chậm trễ hay biến tướng chính sách.
Sự tinh gọn này còn giúp bộ máy cơ sở sát dân, hiểu dân hơn, chuyển từ quản lý hành chính xơ cứng sang vai trò người đồng hành, trực tiếp đối thoại và giải quyết gốc rễ căn nguyên nghèo đói của từng hộ gia đình. Thay vì phân bổ nguồn lực cào bằng, mọi nguồn lực hỗ trợ được tập trung trọng điểm vào giáo dục sinh kế, đào tạo nghề và chăm sóc sức khỏe.
Cùng với bộ máy tinh gọn, truyền thông chính sách đóng vai trò lực lượng đi trước mở đường, giải phóng nhận thức và quy tụ niềm tin xã hội. Truyền thông chính sách trong kỷ nguyên mới phải trở thành công cụ thay đổi hành vi, truyền cảm hứng hành động, giúp người dân hiểu, tin và tự giác làm theo. Chúng ta cần xóa bỏ các thuật ngữ mang tính “trợ cấp” để chuyển sang ngôn ngữ của sự “đầu tư”, “hợp tác” và “đồng hành”. Ðồng thời, truyền thông, nhất là truyền thông báo chí cần chuyển hướng từ việc “trình bày khó khăn” sang tôn vinh những tấm gương tự nguyện xin thoát nghèo, những mô hình tự lực vươn lên làm giàu nhờ tri thức và công nghệ, lan tỏa cảm hứng và nguồn năng lượng tích cực trong toàn xã hội.
Bên cạnh đó, truyền thông chính sách phải tận dụng tối đa sức mạnh công nghệ để tương tác hai chiều, tạo không gian đối thoại công khai nhằm lắng nghe nguyện vọng của Nhân dân. Khi người dân hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và thấy được sự minh bạch của hệ thống, người dân sẽ tự tin nắm lấy cơ hội để tự quyết định và thay đổi vận mệnh của chính mình.
Chuyển đổi tư duy giảm nghèo gắn liền với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cùng sự hội tụ của các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị không chỉ giải quyết vấn đề an sinh xã hội trước mắt, mà là chiến lược căn cơ kiến tạo sức mạnh nội sinh của dân tộc. Khi mỗi cá nhân chủ động vươn lên nhờ sức khỏe, tri thức và lòng tự trọng; mỗi gia đình trở thành một tế bào tự chủ, sung túc, hạnh phúc, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, toàn diện. Ðó chính là nền tảng vững chắc nhất để đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.











