'Ông lớn' hàng hải sẽ đầu tư siêu Dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam linh hoạt ứng biến, phòng ngừa rủi ro, bám sát các mục tiêu, kết quả thực hiện, hướng các kịch bản theo diễn biến của thị trường.

Bốc xếp dỡ hàng hóa container tại một cảng biển của VIMC. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bốc xếp dỡ hàng hóa container tại một cảng biển của VIMC. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) sẽ tham gia đầu tư Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ để mở rộng hạ tầng cảng biển, logistics nhằm nâng cao năng lực khai thác để mở đầu giai đoạn 2026-2030 với khát vọng bứt phá, phát triển năng động, hiệu quả, bền vững, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong của kinh tế nhà nước trong các ngành then chốt.

Nguy cơ thua lỗ khi giá nhiên liệu tăng gấp 3 lần

Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 vào sáng nay (ngày 15/4) của VIMC, ông Nguyễn Cảnh Tĩnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị VIMC cho biết năm nay, tổng công ty đặt ra chỉ tiêu sản lượng vận tải biển đạt 23,78 triệu tấn (đạt 110,5% so với năm 2025); sản lượng cảng biển đạt 180,1 triệu tấn (đạt 111% so với kế hoạch năm 2025); doanh thu năm 2026 đạt 22.186 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế là 3.236 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 2.589 tỷ đồng.

Tuy nhiên, ông Tĩnh nhận định yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất đến kế hoạch kinh doanh năm nay chính là sự leo thang của xung đột quân sự tại Trung Đông, đặc biệt là cuộc chiến tranh giữa Mỹ-Israel và Iran bùng phát từ cuối tháng 2/2026, khả năng khủng hoảng năng lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng và logistics, biến động thị trường tài chính… sẽ tác động trực tiếp đến các chi phí đầu vào, hoạt động vận tải biển, logistics, cảng biển của tổng công ty.

Cụ thể, đối với thị trường vận tải container, trước diễn biến leo thang, các hãng tàu lớn đã triển khai các biện pháp khẩn cấp như điều chỉnh các tuyến dịch vụ ghé các cảng thuộc khu vực nguy hiểm, áp dụng phụ phí rủi ro chiến tranh.

“Trong trung hạn, nếu tình hình bất ổn kéo dài, thị trường có thể chứng kiến những điều chỉnh nhất định trong cấu trúc mạng lưới vận tải container. Các hãng tàu có khả năng tái cấu trúc tuyến dịch vụ, tăng cường trung chuyển tại các cảng trung gian an toàn hơn nhằm giảm thiểu rủi ro,” ông Tĩnh đưa ra dự báo.

Ngoài ra, giá cước vận tải container trên các tuyến chính như châu Á-Trung Đông và châu Âu- Trung Đông có thể biến động mạnh, trong khi một số tuyến dịch vụ có thể phải thay đổi hành trình hoặc kéo dài thời gian vận chuyển.

Đại hội đồng cổ đông thường niên của VIMC năm 2026 diễn ra vào sáng 15/4. (Ảnh: Khánh Hùng/Vietnam+)

Đại hội đồng cổ đông thường niên của VIMC năm 2026 diễn ra vào sáng 15/4. (Ảnh: Khánh Hùng/Vietnam+)

Đánh giá hiện nay giá nhiên liệu hàng hải tăng lên mức rất cao, gấp khoảng 2-3 lần so với giả định trong kế hoạch được VIMC xây dựng từ đầu năm, theo ông Lê Anh Sơn, Tổng Giám đốc VIMC, trong bối cảnh giá cước chưa có nhiều chuyển biến tích cực, chi phí nhiên liệu tăng mạnh lại chiếm khoảng 30% chi phí khai thác của hoạt động vận tải biển, dẫn tới hiệu quả khai thác của các đội tàu đang chịu áp lực rất lớn.

“Mức giá nhiên liệu nếu không quay trở lại trước thời điểm xung đột Trung Đông sẽ là hiểm họa rất lớn với đội tàu quốc tế của VIMC, ảnh hưởng đến hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh năm nay,” ông Sơn than thở.

Phân tích thêm, lãnh đạo VIMC cho rằng khi giá dầu tăng mạnh, chi phí nhiên liệu của tàu biển tăng ngay (chiếm khoảng 20-30% chi phí khai thác đội tàu) làm suy giảm hiệu quả khai thác khi giá cước chưa điều chỉnh tương ứng. Điều này đặc biệt nhạy cảm với các tàu chạy tuyến dài, tàu hoạt động ở thị trường cạnh tranh cao hoặc hợp đồng thuê chưa có cơ chế bù giá nhiên liệu. Ngoài giá nhiên liệu, phí bảo hiểm chiến tranh, phụ phí rủi ro chiến sự, phụ phí an ninh và chi phí chuyển hướng hành trình cũng có xu hướng tăng.

“Chi phí nhiên liệu hàng tháng của các đơn vị tăng từ 40-51%, kéo theo chi phí thuê ngoài vận tải tăng 20% và chi phí chuỗi dịch vụ tăng 14-17%. Đặc biệt, áp lực vốn lưu động trở nên nghiêm trọng khi doanh nghiệp phải chi ra một lượng tiền mặt lớn hơn 40% để đổ dầu cho đội xe trước khi thu được tiền từ khách hàng (thường có độ trễ công nợ 30-60 ngày). Đối với hoạt động bãi container, các xe nâng tiêu thụ trung bình 15-25 lít dầu/giờ, khiến chi phí cho mỗi lượt nâng hạ container tăng tương ứng 40%,” Tổng giám đốc VIMC nhìn nhận.

Đầu tư siêu cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ

Trước bối cảnh biến động giá nhiên liệu, thực hiện theo Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, cung cấp đủ và ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội, theo ông Tĩnh, Hội đồng quản trị VIMC thống nhất linh hoạt ứng biến, phòng ngừa rủi ro, bám sát các mục tiêu, kết quả thực hiện, chỉ đạo liên tục, định hướng các kịch bản theo diễn biến của thị trường.

Cụ thể, VIMC quyết tâm hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm 2026; thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước, đảm bảo lợi ích tối ưu cho các cổ đông.

“Năm 2026, VIMC là nhà đầu tư Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ để phát triển cảng nước sâu, cảng trung chuyển quốc tế; mở rộng hạ tầng cảng biển, logistics nhằm nâng cao năng lực khai thác, năng lực cạnh tranh; lấy phát triển bền vững làm giá trị cốt lõi,” ông Tĩnh nhấn mạnh.

Khẳng định Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ với tổng vốn đầu tư 128.872 tỷ đồng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hoàn thiện hệ thống logistics, lãnh đạo VIMC cho rằng việc VIMC (tỷ lệ góp vốn 36%) và Cảng Sài Gòn (góp vốn 15%) tham gia liên doanh với đối tác chiến lược MSC/TIL (góp vốn 49%) là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế biển và chiến lược đầu tư cảng nước sâu của tổng công ty đồng thời theo đúng tinh thần của Nghị quyết Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia, khuyến khích hợp tác công tư trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

Phối cảnh Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. (Nguồn: VIMC)

Phối cảnh Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. (Nguồn: VIMC)

Do đây là dự án lớn, trọng điểm của tổng công ty, tùy vào khả năng huy động nguồn lực, VIMC sẽ cân đối lại cơ cấu vốn đầu tư (có thể xem xét cơ cấu vốn tự có/vốn vay) để đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư của tổng công ty.

Đưa ra kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2026, VIMC tiếp tục duy trì và giữ chân khách hàng hiện hữu; đồng thời phát triển khách hàng mới và mở rộng các tuyến dịch vụ để gia tăng thị phần tại các khu vực trọng điểm, củng cố vị thế của VIMC và các doanh nghiệp thành viên; phát triển được tuyến vận tải biển đến các khu vực, thị trường mới, nâng cao hiệu quả cho đội tàu.

Tổng công ty phát triển mạnh các dịch vụ logistics tích hợp dựa trên hệ sinh thái cảng biển-vận tải biển-logistics đồng bộ; tạo ra các sản phẩm dịch vụ khác biệt, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng cường sức cạnh tranh cốt lõi của VIMC trên thị trường.

Cùng với việc đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng logistics và đội tàu để tạo bước đột phá về năng lực khai thác và hiệu quả vận hành, là động lực để tăng trưởng bền vững, VIMC sẽ lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm động lực cốt lõi cho sự phát triển, tạo ra không gian tăng trưởng mới và lợi thế cạnh tranh bền vững, đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước, đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng và an sinh xã hội./.

Nghị quyết số 70-NQ/TW nêu rõ mục tiêu đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, cung cấp đủ và ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ngành năng lượng sẽ phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ, thông minh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 25-30% tổng cung; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng từ 8-10% và giảm phát thải khí nhà kính từ 15-35% so với kịch bản thông thường. Đến năm 2045, ngành năng lượng Việt Nam phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, có thị trường cạnh tranh minh bạch, hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế, chất lượng nhân lực và trình độ công nghệ ngang bằng các nước công nghiệp phát triển.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/ong-lon-hang-hai-se-dau-tu-sieu-du-an-cang-trung-chuyen-quoc-te-can-gio-post1105023.vnp