PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên: Hoàn thiện Luật Điện lực, tạo nền tảng đổi mới công nghệ và phát triển bền vững ngành điện
Đánh giá cao tinh thần tiếp thu, giải trình của Bộ Công Thương trong quá trình hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên cho rằng việc sửa đổi Luật lần này không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc trước mắt trong đầu tư, phát triển nguồn và lưới điện mà còn tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy đổi mới công nghệ, hiện đại hóa hệ thống điện và phát triển bền vững ngành điện trong dài hạn.

PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên - Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội, Chủ tịch Phân ban Việt Nam của Hiệp hội Điện lực và Năng lượng IEEE - Ảnh: HUST&TCCT
Chiều 3/11/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Tại phiên thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội đánh giá cao tinh thần cầu thị, nghiêm túc tiếp thu, giải trình của Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo đối với các ý kiến góp ý tại phiên thảo luận Tổ; đồng thời tiếp tục đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, phát triển ngành điện.
Ngay sau phiên thảo luận, Tạp chí Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên - Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội, Chủ tịch Phân ban Việt Nam của Hiệp hội Điện lực và Năng lượng IEEE về sự cần thiết sửa đổi Luật Điện lực, những nội dung đáng chú ý của dự thảo, cũng như việc tiếp thu, giải trình của Bộ Công Thương và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển bền vững ngành điện.
TCCT: Thưa PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên, ông đánh giá như thế nào về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực ở thời điểm hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh Luật vừa được sửa đổi năm 2024? Những nội dung được đề xuất sửa đổi lần này đã đáp ứng như thế nào yêu cầu tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn phát triển và vận hành hệ thống điện?
PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên: Theo tôi, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực ở thời điểm hiện nay là cần thiết, dù Luật Điện lực năm 2024 mới được ban hành chưa lâu. Điều này không có nghĩa là những định hướng lớn của Luật năm 2024 không còn phù hợp, mà cho thấy quá trình triển khai thực tế cùng với những diễn biến mới trong và ngoài nước về công nghệ, thị trường, đầu tư,… đang đặt ra những yêu cầu mới cần được xử lý kịp thời ở cấp luật.
Cụ thể, nhu cầu điện của nền kinh tế đang tăng nhanh, trong khi việc phát triển nguồn điện và lưới điện phải đối mặt với nhiều vướng mắc liên quan đến quy hoạch, đầu tư, đất đai, cơ chế giá và tổ chức vận hành. Việc triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng cho thấy yêu cầu phải đồng bộ hơn giữa phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và khả năng giải tỏa công suất, phát triển lưới điện thông minh, tăng khả năng hấp thụ các nguồn năng lượng tái tạo. Nếu chỉ phát triển nguồn điện mà không bảo đảm hạ tầng truyền tải, đấu nối và cơ chế huy động phù hợp dựa trên nên tảng kỹ thuật tiên tiến ứng dụng thành tựu của AI thì công suất được đầu tư chưa chắc đã chuyển hóa thành nguồn cung điện hữu ích cho nền kinh tế.
Tại phiên thảo luận ngày 3/11/2026, các đại biểu Quốc hội đã quan tâm đến việc làm rõ cơ chế đặc thù trong đầu tư dự án điện lực, nhất là những trường hợp được miễn một số thủ tục đầu tư; đồng thời đề nghị rà soát các quy định chuyển tiếp để không tạo ra những điểm nghẽn mới trong quá trình thực thi. Đây là những vấn đề rất thực tiễn, bởi tiến độ dự án điện thường phụ thuộc vào nhiều thủ tục và chủ thể khác nhau.

PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên đánh giá cao tinh thần tiếp thu và giải trình của Bộ Công Thương, cho rằng qua phần giải trình, có thể thấy cơ quan chủ trì soạn thảo đã nhận diện được nhiều vấn đề không chỉ ở góc độ quy định pháp luật, mà còn ở khía cạnh tổ chức thực hiện và những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai các dự án điện - Ảnh: Quốc hội
Tôi đánh giá dự thảo lần này đã tiếp cận tương đối toàn diện các vướng mắc đó. Dự thảo đề xuất một số dự án điện lực không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư; bổ sung cơ chế đầu tư lưới điện truyền tải theo hình thức đối tác công tư (PPP); hoàn thiện cơ chế lựa chọn nhà đầu tư và cơ chế hợp đồng mua bán điện. Đồng thời, dự thảo cũng đề cập việc giảm điều kiện cấp phép hoạt động điện lực, mở rộng các trường hợp miễn trừ và hoàn thiện cơ chế giá đối với năng lượng tái tạo, lưu trữ điện.
Tuy nhiên, tôi cho rằng cần nhìn nhận việc tháo gỡ vướng mắc theo hướng đồng bộ. Rút ngắn thủ tục đầu tư là cần thiết, nhưng phải đi cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tiến độ thực hiện, điều kiện đấu nối và cơ chế kiểm soát an toàn. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm dự án điện, mà là đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ, bảo đảm cung cấp điện ổn định và hiệu quả.
TCCT: Từ góc độ chuyên gia trong lĩnh vực điện, ông đánh giá những nội dung nào của dự thảo Luật lần này có ý nghĩa đáng chú ý đối với việc bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy đầu tư và phát triển hệ thống điện trong giai đoạn tới?
PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên: Tôi cho rằng có một số nhóm nội dung đáng chú ý, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quy hoạch và đầu tư phát triển nguồn, lưới điện. Dự thảo đề xuất giảm một số thủ tục đầu tư đối với dự án điện lực, bổ sung cơ chế đầu tư lưới điện truyền tải theo hình thức PPP và hoàn thiện quy định về các dự án điện cấp bách. Đây là những nội dung có thể giúp huy động thêm nguồn lực xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống điện rất lớn. Tuy nhiên, cần gắn cơ chế đầu tư với trách nhiệm triển khai và khả năng đồng bộ nguồn và lưới, tránh tình trạng nguồn điện hoàn thành nhưng chưa thể phát huy hiệu quả do thiếu hạ tầng truyền tải.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế thị trường điện và hợp đồng mua bán điện. Dự thảo đề cập mở rộng mua bán điện trực tiếp, hoàn thiện các cấp độ thị trường điện cạnh tranh và lấy giá điện trúng thầu làm cơ sở ký kết hợp đồng mua bán điện, qua đó hạn chế việc đàm phán lại giá sau đấu thầu. Dự thảo cũng cho phép đơn vị truyền tải thu hồi vốn đầu tư thông qua giá dịch vụ truyền tải và ký hợp đồng dịch vụ truyển tải với khách hàng, điều này có thể giúp giao dịch mua bán điện trực tiếp có cơ sở phát triển tốt hơn trong khi lợi ích của đơn vị quản lý điều độ lưới vẫn đảm bảo, tăng khả năng huy động đầu tư vào nguồn. Nếu được thiết kế rõ ràng, các cơ chế này có thể nâng cao tính minh bạch, giảm rủi ro trong quá trình phát triển dự án và tạo điều kiện để các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư dài hạn.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách giá điện và cơ chế khuyến khích các loại hình nguồn điện mới. Dự thảo đề cập lộ trình giảm và tiến tới xóa bỏ bù chéo giữa các nhóm khách hàng, đồng thời hoàn thiện cơ chế giá đối với năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ điện. Đây là vấn đề quan trọng bởi giá điện vừa phải phản ánh chi phí hợp lý, vừa phải bảo đảm khả năng chi trả của người dân và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần kết hợp cơ chế giá với chính sách hỗ trợ phù hợp cho các nhóm khách hàng dễ bị tổn thương.
Thứ tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho năng lượng tái tạo, lưu trữ điện và các loại hình năng lượng mới. Dự thảo đề cập thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo, hệ thống lưu trữ điện, điện gió ngoài khơi và cơ chế phát triển điện rác. Các nguồn điện gió ngoài khơi và nhiệt điện không đấu thầu vì lý do an ninh quốc phòng tương đối hợp lý nhưng cần có sự tham vấn phù hợp để đảm bảo được các mục tiêu phát triển kinh tế, đóng góp vào đa dạng hóa nguồn cung, giảm phát thải và nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm dự án điện, mà là đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ, bảo đảm cung cấp điện ổn định và hiệu quả - Ảnh: Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3&4
Thứ năm, dự thảo có để cập nhiều tới chính sách phát triển lưới điện thông minh để năng cao năng lực vận hành hiệu quả hệ thống điện và quản lý nhu cầu điện để tạo sự linh hoạt trong mảng tiêu thụ điện, đây là hai công nghệ có vai trò rất lớn trong đảm bảo cân bằng cung cầu điện trong giai đoạn sắp tới. Đồng hành với việc đề cao các giải pháp kỹ thuật, Dự thảo luật cũng khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và triển khai làm chủ khoa học công nghệ, phát triển nhận lực phục vụ vận hành hệ thống điện hiện đại, chuyển giao công nghệ khi có sự tham gia của nhà thầy quốc tế. Đặc biệt, có các yêu cầu về chia sẻ dự liệu cho các hoạt động trong ngành điện lực trong khi vẫn đảm bảo bí mật nhà nước cá nhân, có khả năng thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu. Không chỉ có vậy, Dự thảo luật còn thúc đẩy các trung tâm nghiên cứu, đổi mới mới sáng tạo cho các sản phẩm điện lực và coi đó là mức đầu tư cho dự án và chi phí sản xuất kinh hoạt hợp lệ của doanh nghiệp.
Từ góc độ kỹ thuật hệ thống điện, tôi cho rằng an ninh năng lượng không chỉ được đo bằng tổng công suất nguồn điện đã lắp đặt. An ninh năng lượng còn phụ thuộc vào khả năng truyền tải, điều độ, dự phòng, lưu trữ và duy trì vận hành ổn định trong các điều kiện khác nhau. Khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng lên, hệ thống điện sẽ cần nhiều hơn các giải pháp dự báo, điều khiển, lưu trữ và quản lý nhu cầu điện. Vì vậy, các quy định về đầu tư và thị trường cần được nhìn nhận cùng với yêu cầu hiện đại hóa công nghệ vận hành hệ thống điện. Các thay đổi trong câu từ so với luật điện lực 2024 cũng đã làm rõ hơn một hệ thống điện được đầu tư, quản lý vận hành tốt hơn trong tương lai.
TCCT: Theo dõi phần giải trình của Bộ trưởng Bộ Công Thương tại phiên thảo luận, ông đánh giá như thế nào về việc Bộ Công Thương tiếp thu, làm rõ những vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm? Những nội dung giải trình và phương án chỉnh lý dự thảo đã giải đáp được các vấn đề đặt ra ở mức độ nào?
PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên: Tôi đánh giá cao tinh thần tiếp thu và giải trình của Bộ Công Thương. Qua phần giải trình, có thể thấy cơ quan chủ trì soạn thảo đã nhận diện được nhiều vấn đề không chỉ ở góc độ quy định pháp luật, mà còn ở khía cạnh tổ chức thực hiện và những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai các dự án điện.
Theo thông tin tại phiên thảo luận, trước đó ngày 20/10 đã có 69 lượt ý kiến tại tổ và 4 ý kiến gửi bằng văn bản; tại phiên thảo luận ngày 3/11 tiếp tục có thêm 12 ý kiến của đại biểu Quốc hội về các vấn đề lưới điện thông minh, điện sinh khối, khả năng bán điện của các hộ gia đình cho lưới, điện gió ngoài khơi, giám sát các dự án điện, thu hút vốn đầu tư, xóa bù chéo minh bạch giá điện, quy hoạch và thực hiện, kiểm soát quá trình đầu tư, giá điện sinh hoạt theo giờ, mua bán điện trực tiếp…. Bộ Công Thương, Bộ trưởng cho biết đã nghiên cứu, tổng hợp và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình để tiếp tục hoàn thiện dự thảo. Điều này cho thấy quá trình chỉnh lý có sự xem xét đối với các ý kiến từ nhiều góc độ khác nhau.
Tôi cho rằng phần giải trình đã làm rõ hơn ba định hướng lớn.
Một là, tháo gỡ khó khăn thực tiễn và hoàn thiện cơ chế đầu tư, nhất là các vấn đề liên quan đến quy hoạch, thủ tục đầu tư, dự án điện cấp bách và cơ chế huy động nguồn lực.
Hai là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cắt giảm thủ tục hành chính, nhưng gắn với năng lực thực hiện và trách nhiệm của cơ quan được giao thẩm quyền. Đây là điểm quan trọng, bởi phân cấp chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm với quy trình rõ ràng, nguồn lực thực hiện và cơ chế giám sát.
Ba là, hoàn thiện cơ chế phát triển thị trường điện, giá điện và các loại hình năng lượng mới, nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho đầu tư và vận hành hệ thống điện trong giai đoạn tới. Những định hướng này cũng được thể hiện trong phần trình bày của Bộ trưởng Bộ Công Thương về các nhóm chính sách trọng tâm của dự thảo.
Tuy nhiên, theo tôi, cần phân biệt giữa việc đã làm rõ định hướng chính sách và việc đã giải quyết đầy đủ mọi vấn đề ở cấp độ quy định cụ thể. Một số nội dung như điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù, trách nhiệm khi chậm tiến độ, cơ chế xử lý khi nguồn điện không được huy động, hay mối quan hệ giữa chủ đầu tư nguồn điện và chủ đầu tư lưới điện vẫn cần được quy định đủ rõ để tránh cách hiểu khác nhau trong thực thi.
Vì vậy, tôi đánh giá phần giải trình đã tạo cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện dự thảo, nhưng chất lượng cuối cùng của Luật sẽ phụ thuộc vào mức độ cụ thể, nhất quán và khả thi của các điều khoản sau khi được chỉnh lý.

Một số nội dung như điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù, trách nhiệm khi chậm tiến độ, cơ chế xử lý khi nguồn điện không được huy động, hay mối quan hệ giữa chủ đầu tư nguồn điện và chủ đầu tư lưới điện vẫn cần được quy định đủ rõ để tránh cách hiểu khác nhau trong thực thi - Ảnh minh họa
TCCT: Theo ông, trong quá trình tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, còn những vấn đề nào cần được rà soát, làm rõ để các quy định sau khi được thông qua có tính khả thi cao, vừa tháo gỡ các điểm nghẽn trước mắt vừa tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành điện trong dài hạn?
PGS.TS. Nguyễn Đức Tuyên: Theo tôi, cần tiếp tục rà soát một số vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, làm rõ điều kiện và phạm vi áp dụng các cơ chế đặc thù về đầu tư. Việc miễn hoặc giảm một số thủ tục có thể giúp đẩy nhanh tiến độ dự án, nhưng cần quy định rõ tiêu chí xác định dự án thuộc diện áp dụng, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Đồng thời, phải bảo đảm các yêu cầu về môi trường, đất đai, quốc phòng, an ninh và an toàn công trình vẫn được thực hiện đầy đủ.
Thứ hai, làm rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp trong phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện. Đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với an ninh năng lượng. Cần xác định rõ trách nhiệm đầu tư, tiến độ và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, nhất là trong trường hợp dự án nguồn điện đã hoàn thành nhưng công trình truyền tải hoặc đấu nối chưa sẵn sàng. Đại biểu Quốc hội cũng đã quan tâm đến việc gắn quy hoạch nguồn điện với lưới điện giải tỏa công suất và xác định rõ trách nhiệm thực hiện.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế hợp đồng và phân bổ rủi ro trong thị trường điện. Với các dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài như điện gió ngoài khơi, cần làm rõ cơ chế mua bán điện, thanh toán, điều chỉnh hợp đồng và xử lý các tình huống phát sinh. Các rủi ro cần được phân bổ minh bạch, phù hợp với khả năng kiểm soát của từng bên, thay vì để nhà đầu tư hoặc người sử dụng điện phải gánh những rủi ro không hợp lý.
Thứ tư, gắn phát triển nguồn điện với khoa học công nghệ và năng lực làm chủ công nghệ trong nước. Đây là nội dung tôi đặc biệt quan tâm. Dự thảo đã đề cập hệ thống lưu trữ điện, lưới điện thông minh, năng lượng tái tạo và các loại hình năng lượng mới. Nhưng để các lĩnh vực này phát triển bền vững, cần có cơ chế thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng và từng bước làm chủ công nghệ trong nước, đặc biệt có sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp trong nước và kể cả ngoài nước trong quá trình làm chủ công nghệ, phối hợp với các đơn vị nghiên cứu ở trường viện.
Ví dụ, với hệ thống lưu trữ điện, không chỉ cần cơ chế đầu tư và giá dịch vụ, mà còn cần phát triển năng lực thiết kế, tích hợp, điều khiển, quản lý tuổi thọ và bảo đảm an toàn. Với lưới điện thông minh, cần phát triển công nghệ dự báo, điều độ, bảo vệ, quản lý dữ liệu và an toàn thông tin. Với điện gió ngoài khơi, cần từng bước xây dựng năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo trì. Năng lực nghiên cứu của các doanh nghiệp với sự phối hợp của trường viện sẽ nâng cao các công nghệ.
Như vậy, các dự án điện quy mô lớn nên được nhìn nhận không chỉ là dự án cung cấp điện, mà còn là cơ hội phát triển năng lực công nghiệp, nghiên cứu và công nghệ trong nước. Cần thúc đẩy liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, để nhu cầu thực tiễn của ngành điện trở thành động lực cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, hoàn thiện quy định chuyển tiếp và văn bản hướng dẫn thi hành. Một đạo luật có thể đặt ra định hướng đúng, nhưng nếu các quy định hướng dẫn chậm ban hành hoặc thiếu thống nhất thì vẫn có thể phát sinh điểm nghẽn mới. Vì vậy, cần rà soát đầy đủ các tình huống chuyển tiếp, bảo đảm các văn bản hướng dẫn có thể được ban hành đồng bộ và đủ rõ để cơ quan quản lý, nhà đầu tư và đơn vị vận hành có thể thực hiện thống nhất. Đây cũng là một trong những nội dung được lãnh đạo Quốc hội lưu ý trong quá trình hoàn thiện dự thảo.
Tóm lại, việc hoàn thiện Luật Điện lực cần hướng đến ba mục tiêu đồng thời: tháo gỡ điểm nghẽn trước mắt, bảo đảm an ninh cung cấp điện và tạo nền tảng cho chuyển đổi công nghệ của ngành điện trong dài hạn. Một hệ thống điện bền vững không chỉ cần đủ nguồn điện và đủ vốn đầu tư, mà còn cần thị trường vận hành minh bạch, hạ tầng đồng bộ, công nghệ hiện đại và năng lực làm chủ ngày càng cao của Việt Nam.
Sửa đổi Luật Điện lực lần này cần được nhìn nhận không chỉ là hoàn thiện cơ chế đầu tư hay cắt giảm thủ tục hành chính. Đây còn là cơ hội để xây dựng nền tảng pháp lý cho một hệ thống điện hiện đại, linh hoạt, an toàn và có khả năng tích hợp tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng cao. Cùng với việc huy động nguồn lực đầu tư, cần thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và từng bước làm chủ các công nghệ cốt lõi trong nước, qua đó nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành điện Việt Nam.
