Phân bổ nguồn lực hòa giải cơ sở kịp thời, không cào bằng chi phí giữa các địa bàn
Hòa giải ở cơ sở là một thiết chế nhân văn sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa tự quản của người Việt Nam. Việc hoàn thiện dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bên cạnh các tiêu chí như già làng, trưởng bản, người có năng lực, trình độ và uy tín, độ tuổi cũng là yếu tố cần được xem xét trong tiêu chuẩn hòa giải viên - Ảnh: Internet
Tăng quyền tiếp cận công lý bình đẳng của đồng bào
Tham gia thảo luận về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) ngày 10/08, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà (Quảng Ninh) cho biết giai đoạn 2014-2025, cả nước đã tiếp nhận trên 1,5 triệu vụ, việc hòa giải, tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 81%. Kết quả này cho thấy vai trò thực chất của thiết chế hòa giải trong việc giải quyết mâu thuẫn ngay từ cơ sở.
Cùng nhận định này, ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Hạnh (TP Hồ Chí Minh) khẳng định, khi hoạt động hòa giải ở cơ sở có hiệu quả sẽ góp phần giảm số lượng vụ việc đưa đến tòa án, từ đó tiết kiệm được ngân sách nhà nước, tiết kiệm được chi phí của xã hội và người dân. Đồng thời, hòa giải ở cơ sở còn mang ý nghĩa xã hội lớn hơn đó là góp phần giữ gìn trật tự ở địa phương, giữ gìn tình làng nghĩa xóm và hạnh phúc của từng gia đình.
Nhằm phát huy những hiệu quả đã đạt được và hóa giải những vướng mắc trong thực tiễn, dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đang được Quốc hội thảo luận với nhiều ý kiến đóng góp để nhanh chóng hoàn thiện khung chính sách cho hoạt động này. Qua nghiên cứu dự thảo, các ĐBQH ghi nhận dự thảo Luật có nhiều quy định phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc; bố trí hòa giải viên là người dân tộc thiểu số; người phiên dịch; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín.
ĐBQH Chamaléa Thị Thủy (Khánh Hòa) dẫn chứng, dự thảo Luật bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 4, khoản 1 Điều 14, theo đó đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số, bảo đảm phù hợp với đặc điểm dân cư của địa phương. Cùng với việc khuyến khích người có uy tín, già làng, trưởng bản tham gia hỗ trợ hòa giải tại Điều 5, Điều 18, theo đại biểu, đây là bước đi đột phá, thể hiện sự tôn trọng bản sắc văn hóa và quyền tiếp cận công lý bình đẳng của đồng bào.
Tuy nhiên, những quy định trên chỉ có thể đi vào thực tế nếu được bảo đảm bằng nguồn lực phù hợp. ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) cho biết, một tổ hòa giải ở địa bàn đô thị, dân cư tập trung và một tổ hòa giải ở xã miền núi, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều thành phần dân tộc nên rõ ràng có điều kiện hoạt động rất khác nhau. Chi phí đi lại, yêu cầu về ngôn ngữ, tài liệu, tập huấn và khả năng tiếp cận công nghệ cũng khác nhau. Do đó, khi hoàn thiện Điều 6 về kinh phí và Điều 32 về trách nhiệm của chính quyền địa phương, đại biểu đề nghị bảo đảm nguyên tắc: “phân bổ nguồn lực phải tính đến đặc điểm địa bàn và chi phí thực tế của hoạt động hòa giải, không nên chỉ áp dụng một cơ chế bình quân”.
Bên cạnh đó còn là vấn đề chi phí để đào tạo, bồi dưỡng người hòa giải đáp ứng đủ yêu cầu. Thực tiễn cho thấy đồng bào khi xảy ra mâu thuẫn thường có tâm lý e ngại, gặp rào cản ngôn ngữ, khó bày tỏ đầy đủ tâm tư, nguyện vọng bằng tiếng phổ thông. Điều này cũng khiến hòa giải viên gặp khó khăn trong việc nắm bắt bản chất vụ việc và tìm kiếm phương án giải quyết phù hợp.

Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình ý kiến ĐBQH về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
Chi phí và lộ trình chuyển đổi số mỗi địa bàn khác nhau
Đồng thời, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) tại những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, dân cư sống phân tán, hiệu quả hòa giải không chỉ phụ thuộc vào kiến thức pháp luật mà còn gắn với khả năng sử dụng ngôn ngữ, am hiểu phong tục tập quán và uy tín của người tham gia hòa giải. Nếu không bảo đảm những điều kiện này, các quy định của Luật sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả trong thực tế, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Do đó, các đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi dưỡng hòa giải viên, cung cấp tài liệu hòa giải bằng tiếng dân tộc thiểu số; tiếp tục rà soát Điều 5 trong mối quan hệ với các Điều 14, 18 và 25; đồng thời ưu tiên nguồn lực, bồi dưỡng hòa giải viên biết tiếng dân tộc thiểu số, phát huy vai trò của người có uy tín và xây dựng tài liệu nghiệp vụ phù hợp với ngôn ngữ, phong tục tập quán, điều kiện từng địa bàn. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ kinh phí bố trí người phiên dịch một cách thực chất, tránh tình trạng quy định khó triển khai do địa phương thiếu nguồn lực.
Đề cập việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hòa giải, ĐBQH Chamaléa Thị Thủy, lưu ý, tại các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hạ tầng số còn hạn chế; nhiều hòa giải viên lớn tuổi chưa có điều kiện và kỹ năng tiếp cận công nghệ. Do đó, Luật cần quy định linh hoạt về lộ trình áp dụng, đồng thời có chính sách hỗ trợ hạ tầng số phù hợp với điều kiện của từng địa bàn, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Để giữ vững bản chất tự quản, dân chủ của tổ hòa giải ở cơ sở, cần bổ sung quy định việc chỉ định hòa giải viên phải được bàn bạc, thống nhất và lấy ý kiến của các tổ chức chính trị - xã hội là thành viên của Mặt trận tại thôn, tổ dân phố, cùng đại diện cộng đồng dân cư. Việc lấy ý kiến cần được thực hiện đối với danh sách nhân sự dự kiến trước khi Trưởng ban Công tác Mặt trận lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã công nhận.
Cùng với đó, ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (tỉnh Lạng Sơn) bày tỏ việc xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu và nền tảng số về hòa giải ở cơ sở thống nhất trên phạm vi toàn quốc là hướng đi cần thiết để phục vụ quản lý thống kê chia sẻ dữ liệu và giảm dần phương thức quản lý thủ công. Song cần xác định rõ nguyên tắc nền tảng phải thống nhất, nhưng phương thức và lộ trình triển khai phải phù hợp với từng địa bàn. Chuyển đổi số trong lĩnh vực này cần đặc biệt tránh phát sinh thêm nhiều việc cho cán bộ cơ sở và hòa giải viên, phải dành nhiều thời gian để nhập dữ liệu, hoàn thiện biểu mẫu hoặc xử lý những yêu cầu kỹ thuật không cần thiết.
Trước những ý kiến đóng góp của các ĐBQH, giải trình ý kiến ĐBQH về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện các quy định này. Một số nguyên tắc quan trọng có thể cần được thể hiện ngay trong luật. Dự thảo hiện nay cũng đã thể hiện tinh thần việc ứng dụng công nghệ thông tin phải phù hợp với điều kiện thực tiễn. Dù không quy định một lộ trình cụ thể theo ngày, tháng, nhưng yêu cầu triển khai phù hợp với điều kiện từng địa bàn đã được đặt ra.











