Phấn đấu đến năm 2030, ít nhất 50% địa bàn cấp xã không có ma túy
Lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã làm nền tảng, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035 hướng tới giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại của ma túy, đồng thời kéo giảm bền vững các loại tội phạm.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Ngày 5/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035.
Theo Tờ trình số 972/TTr-CP ngày 29/10/2026 của Chính phủ, việc xây dựng Chương trình xuất phát từ yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống ma túy và tội phạm trong tình hình mới, khi tính chất, phương thức hoạt động của các loại tội phạm ngày càng phức tạp, có sự đan xen giữa nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia và tội phạm lợi dụng không gian mạng.
Tình hình ma túy trong nước những năm qua tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là tại một số thành phố lớn. Số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy vẫn ở mức cao, xuất hiện tại tất cả các địa phương, trong nhiều thành phần, lứa tuổi, đặc biệt có xu hướng gia tăng và lan rộng trong thế hệ trẻ.
Trong khi đó, một số hạn chế trong công tác phòng ngừa, nhận diện, dự báo tình hình, phối hợp trao đổi thông tin, cai nghiện và quản lý sau cai nghiện chưa thể giải quyết triệt để bằng các nhiệm vụ thường xuyên hoặc cơ chế phối hợp riêng lẻ của từng bộ, ngành, địa phương.
Trên cơ sở đó, Chính phủ đề xuất tích hợp Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 đã được Quốc hội phê duyệt với Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026-2035, nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tinh gọn đầu mối và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Phấn đấu giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội mỗi năm
Trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng,
chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an cho biết, theo đề xuất của Chính phủ, Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm 2026 đến hết năm 2035, chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2026-2030 và giai đoạn 2031-2035. Bộ Công an là cơ quan chủ Chương trình.
Mục tiêu tổng quát là phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng, chống ma túy và tội phạm; lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng; kết hợp giữa phòng ngừa với đấu tranh, trong đó lấy phòng ngừa là chính, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy; hằng năm giảm số người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy.
Chương trình cũng hướng tới phát hiện, triệt phá 100% các điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy, điểm nguy cơ, đối tượng bán lẻ ma túy và diện tích trồng trái phép cây có chứa chất ma túy.
Đối với công tác cai nghiện, mục tiêu đến năm 2030 là trên 80% số trạm y tế cấp xã và 100% cơ sở cai nghiện ma túy công lập đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện; trên 70% xã, phường, đặc khu có người nghiện ma túy bố trí điểm tiếp nhận, tư vấn cai nghiện đủ điều kiện theo quy định.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035.
Chương trình đồng thời đặt mục tiêu bảo đảm cơ sở vật chất và duy trì điều trị cho ít nhất 50.000 người nghiện các chất dạng thuốc phiện; trên 90% người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy, người cai nghiện, người tham gia điều trị nghiện và người sau cai nghiện được tư vấn, hỗ trợ, can thiệp về y tế, tâm lý.
Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, Chính phủ đề xuất phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; nhận diện, phát hiện, quản lý 100% băng nhóm tội phạm, kiên quyết triệt xóa hoặc làm tan rã các băng nhóm hoạt động phạm tội.
Đến năm 2030, tỷ lệ điều tra, khám phá các loại tội phạm phấn đấu đạt trên 75%, trong đó tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90%.
Một nội dung đáng chú ý khác là tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu trong phòng, chống tội phạm. Chương trình đề xuất xây dựng Trung tâm điều hành liên ngành phòng, chống tội phạm lừa đảo trực tuyến; phấn đấu trên 90% dữ liệu về các đối tượng tội phạm được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan vào năm 2030.
Cùng với đó, trên 90% người dân được tiếp cận thông tin tuyên truyền phòng, chống tội phạm; trên 50% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai thí điểm mô hình trường học an toàn, không bạo lực học đường, không vi phạm pháp luật.
Đến năm 2035, Chương trình tiếp tục nâng cao các chỉ tiêu, trong đó phấn đấu hằng năm giảm trên 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; tỷ lệ điều tra, khám phá các loại tội phạm đạt trên 80%; nhân rộng mô hình ứng dụng cảnh báo an ninh mạng tại cơ sở tới 100% đơn vị hành chính cấp xã trên toàn quốc.
Về nguồn lực thực hiện, Chính phủ đề xuất tổng kinh phí Chương trình giai đoạn 2026-2030 là 45.301,261 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 39.675,757 tỷ đồng, ngân sách địa phương 5.497,469 tỷ đồng và nguồn vốn huy động hợp pháp khác dự kiến 128,035 tỷ đồng.
Trong tổng kinh phí nêu trên, 22.450,194 tỷ đồng là mức kinh phí tối thiểu đã được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 tại Nghị quyết số 163/2024/QH15. Phần kinh phí đề nghị phê duyệt bổ sung là 22.851,067 tỷ đồng.
Đối với giai đoạn 2031-2035, Chính phủ dự kiến tổng kinh phí thực hiện khoảng 18.151,758 tỷ đồng. Căn cứ kết quả triển khai giai đoạn đầu và tình hình thực tiễn, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện, đồng thời đề xuất nguồn lực cần huy động cho giai đoạn tiếp theo.
Chương trình gồm 10 dự án thành phần, tập trung vào các lĩnh vực như phòng, chống tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia và tội phạm trên không gian mạng; truyền thông, giáo dục phòng ngừa tội phạm; xây dựng địa bàn cấp xã bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tội phạm về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; ứng dụng khoa học, công nghệ; nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý, truy tố, xét xử; cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và tăng cường đáp ứng y tế trong phòng, chống ma túy.
Việc tổ chức thực hiện được phân công cho các bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, trong đó Bộ Công an chịu trách nhiệm quản lý, giám sát tổng thể Chương trình.
Rà soát mục tiêu, phân bổ nguồn lực phù hợp
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cơ bản tán thành sự cần thiết đầu tư Chương trình, nhận thấy Chương trình đáp ứng tiêu chí xác định chương trình mục tiêu quốc gia và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội.
Cơ quan thẩm tra đánh giá việc tích hợp hai chương trình là phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, đồng thời bảo đảm tính kế thừa đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đã được Quốc hội phê duyệt.
Tuy nhiên, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì xây dựng Chương trình tiếp tục rà soát, đối chiếu các nhiệm vụ cụ thể có nội dung tương đồng, giao thoa với các chương trình mục tiêu quốc gia khác; làm rõ phạm vi, đối tượng, địa bàn, sản phẩm đầu ra và nguồn kinh phí thực hiện; trên cơ sở đó, nghiên cứu phương án lồng ghép phù hợp đối với các nội dung có thể tích hợp, bảo đảm không trùng lặp về nhiệm vụ và kinh phí, phát huy hiệu quả nguồn lực trong thực hiện mục tiêu Chương trình.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra.
Về mục tiêu, các chỉ tiêu chủ yếu của Chương trình; phạm vi và thời gian thực hiện Chương trình (khoản 1 và khoản 2 Điều 1 của dự thảo Nghị quyết); các dự án, tiểu dự án thành phần, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy, hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu trong dự thảo Nghị quyết cơ bản bám sát chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống ma túy và tội phạm trong tình hình mới. Việc triển khai Chương trình từ năm 2026 đến hết năm 2035, chia thành hai giai đoạn 2026-2030 và 2031-2035, được đánh giá là phù hợp.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm sự thống nhất, chính xác và gắn kết giữa các chỉ tiêu với nhiệm vụ, hoạt động và nguồn lực thực hiện. Các chỉ tiêu của hai giai đoạn cần có tính kế thừa, nâng dần yêu cầu, bao quát cả lĩnh vực phòng, chống ma túy và phòng, chống tội phạm; đồng thời bổ sung những chỉ tiêu cần thiết để phù hợp với các nghị quyết của Đảng và quy định pháp luật có liên quan. Việc phân nhóm mục tiêu, chỉ tiêu cũng cần rõ ràng, tránh giao thoa, trùng lặp.
Đối với các dự án, tiểu dự án thành phần, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng một số cơ quan của Quốc hội nhận thấy vẫn còn những nhiệm vụ có tính chất tương đồng được bố trí ở nhiều dự án khác nhau. Việc phân bổ vốn tại một số dự án còn mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với mức độ phức tạp, quy mô nhiệm vụ và kết quả đầu ra. Một số số liệu dự toán kinh phí chưa chính xác, cần tiếp tục rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính phù hợp và khả thi.
Về kinh phí thực hiện Chương trình và nguyên tắc phân bổ vốn, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các cơ quan của Quốc hội đề nghị làm rõ căn cứ xác định kinh phí của từng dự án, tiểu dự án thành phần; nguyên tắc và căn cứ cho phép Chính phủ điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên từ ngân sách trung ương, cũng như việc tiếp tục cân đối ngân sách trung ương để hỗ trợ bổ sung cho Chương trình trong quá trình thực hiện.
Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm cân đối, bố trí vốn của ngân sách địa phương và cơ chế huy động các nguồn lực hợp pháp khác. Đối với giai đoạn 2031-2035, cơ quan thẩm tra đề nghị thuyết minh cụ thể căn cứ xác định nhu cầu và mức kinh phí dự kiến để bổ sung vào dự thảo Nghị quyết, bảo đảm phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội. Đặc biệt, cần quan tâm ưu tiên hỗ trợ nguồn lực cho các địa bàn biên giới trong quá trình thực hiện Chương trình.
Về cơ chế, chính sách đặc thù, cơ quan thẩm tra đề nghị phân định rõ những nội dung thuộc thẩm quyền Quốc hội xem xét, quyết định và những nội dung Chính phủ có thể báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trong thời gian Quốc hội không họp, sau đó báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Liên quan việc xử lý chuyển tiếp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng một số cơ quan của Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ thời điểm áp dụng, phạm vi nhiệm vụ và các dự án được tiếp tục triển khai theo cơ chế cũ; đồng thời xác định cụ thể thẩm quyền xử lý kế hoạch, dự toán ngân sách năm 2027.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm bàn giao, tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài sản, trang thiết bị, dữ liệu, phần mềm cùng những kết quả đã hình thành từ Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030, bảo đảm việc chuyển tiếp và triển khai Chương trình mới được thực hiện thống nhất, không gián đoạn.
