Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả
Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)
Bộ Y tế, ung thư vú hiện là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Việt Nam với gần 25.000 trường hợp mắc mới. Ung thư cổ tử cung cũng đang có xu hướng gia tăng thời gian gần đây. Trung bình mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 5.000 ca mắc mới. Mặc dù, đây là căn bệnh có thể dự phòng hiệu quả bằng vắc-xin và tầm soát, nhưng hiện nay, tỷ lệ sàng lọc định kỳ mới chỉ đạt ở mức 28% và có sự chênh lệch lớn về tiếp cận giữa các vùng miền, dân tộc.
Đáng chú ý, công tác dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú và ung thư cổ tử cung tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về cơ chế tài chính thiếu bền vững do bảo hiểm y tế chưa chi trả cho các dịch vụ sàng lọc chủ chốt (chụp Xquang vú, xét nghiệm HPV), buộc việc triển khai phải phụ thuộc vào nguồn vốn dự án, viện trợ hoặc người dân tự chi trả, dẫn đến độ bao phủ sàng lọc thấp. Năng lực của cấp khám bệnh, chữa bệnh cơ bản còn hạn chế về thiết bị, nhân lực và quy trình chuẩn, khiến nhiều địa phương chưa thể triển khai các kỹ thuật chuyên sâu; hệ thống dữ liệu cũng trong tình trạng phân tán, thiếu sự liên thông để ghi nhận đầy đủ quá trình từ sàng lọc đến điều trị và theo dõi.
Theo các chuyên gia về ung thư, phần lớn người bệnh ung thư vú ở nước ta được phát hiện ở giai đoạn muộn (hơn 60% ở giai đoạn III-IV), làm giảm hiệu quả điều trị và tăng chi phí chăm sóc. Trong khi đó, ung thư vú, ung thư cổ tử cung đều có thể phát hiện sớm, giúp tăng cơ hội điều trị khỏi và giảm đáng kể nguy cơ tử vong. Cụ thể: đối với ung thư cổ tử cung, vắc-xin HPV có thể phòng ngừa hơn 99% trường hợp liên quan đến vi-rút HPV; ung thư vú dù chưa có vắc-xin phòng bệnh, song việc phát hiện sớm vẫn mang lại hiệu quả điều trị rất cao.
Cục trưởng Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) Đinh Anh Tuấn cho biết, trước những khó khăn, bất cập nêu trên, nhất là để kịp thời ứng phó với xu hướng gia tăng của bệnh ung thư vú và ung thư cổ tử cung ở nước ta thời gian qua, ngày 3/2/2026, Bộ trưởng Y tế ban hành Quyết định số 358/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu “Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035”, với các mục tiêu cụ thể: Về ung thư vú, phấn đấu giảm tỷ lệ chết trung bình 2,5% mỗi năm. Đến năm 2035, đạt 70% phụ nữ trong độ tuổi từ 40 đến 70 được sàng lọc định kỳ; nâng tỷ lệ phát hiện bệnh giai đoạn sớm (I-II) lên mức 60%. Về ung thư cổ tử cung, quyết tâm thực hiện mục tiêu “90-70-90” vào năm 2035 theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để tiến tới loại trừ bệnh, với các chỉ tiêu: 90% trẻ em gái từ 9 đến 15 tuổi được tiêm đủ liều vắc-xin HPV tại các địa bàn triển khai theo Kế hoạch thực hiện lộ trình tăng số lượng vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2021-2030 của Bộ Y tế; 70% phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 49 được sàng lọc bằng xét nghiệm hiệu năng cao; 90% phụ nữ có tổn thương tử cung được xử trí đúng phác đồ.
Để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đề ra, Bộ Y tế sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp như: Thực hiện lộ trình tăng số lượng vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng; vận động đưa sàng lọc ung thư vú, ung thư cổ tử cung vào danh mục bảo hiểm y tế chi trả; vận động, giáo dục sức khỏe, thay đổi hành vi của người dân nhằm chủ động dự phòng, sàng lọc sớm để đẩy lùi ung thư vú và ung thư cổ tử cung; tổ chức đào tạo nhân viên y tế các cấp theo quy định đã được chuẩn hóa, chuyển giao kỹ thuật về sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và theo dõi người bệnh theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; phát triển các hình thức đào tạo, tư vấn, khám, chữa bệnh từ xa.
Bộ Y tế tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế để tăng cường năng lực chẩn đoán, điều trị ung thư vú, ung thư cổ tử cung; bảo đảm cung ứng vật tư, thuốc, sinh phẩm, và duy trì hệ thống bảo trì thiết bị định kỳ phục vụ cho dự phòng, sàng lọc và điều trị hai căn bệnh nêu trên; chuẩn hóa quy trình chuyên môn kỹ thuật, ứng dụng số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao chất lượng sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh.
Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Tuấn Anh (Bệnh viện K) cho biết: Việc thực hiện sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú là chiến lược hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ người chết và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Vì vậy, việc triển khai chương trình sàng lọc đạt hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa xây dựng hướng dẫn dựa trên bằng chứng, nâng cao nhận thức cộng đồng, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân giữa các tuyến.
Cụ thể: tuyến y tế cơ sở thực hiện truyền thông về bệnh ung thư vú, khai thác yếu tố nguy cơ; khám vú lâm sàng; lập danh sách phụ nữ đến tuổi sàng lọc; chuyển tuyến khi nghi ngờ hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao. Bệnh viện tuyến tỉnh thực hiện siêu âm khi có chỉ định; phân tầng nguy cơ; theo dõi và quản lý phụ nữ nguy cơ trung bình. Trong khi đó, trung tâm ung bướu, bệnh viện chuyên khoa sẽ thực hiện sinh thiết, tư vấn di truyền, quản lý nhóm nguy cơ cao và xây dựng chương trình theo dõi lâu dài. Qua đó, góp phần: Đánh giá đúng nguy cơ-Sàng lọc đúng đối tượng-Phát hiện sớm, điều trị hiệu quả.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-hien-som-de-dieu-tri-hieu-qua-post982964.html


