Phát huy nguồn lực của đội ngũ đảng viên cho phát triển kinh tế

Lời tòa soạn: Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn Chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh” do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày, quán triệt tại Hội nghị.

Phát huy nguồn lực của đội ngũ đảng viên cho phát triển kinh tế

Lời tòa soạn: Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn Chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh” do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày, quán triệt tại hội nghị.

Kính thưa Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Được sự phân công của Ban tổ chức hội nghị, tôi xin báo cáo những nội dung cốt lõi Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng, thể hiện bước đổi mới trong tư duy của Đảng đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; vừa phát huy nguồn lực của đội ngũ đảng viên cho phát triển kinh tế, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát xung đột lợi ích và phòng ngừa việc lợi dụng quyền lực để trục lợi.

Nội dung báo cáo tập trung vào 3 vấn đề lớn: bối cảnh và sự cần thiết ban hành quy định; những tư duy mới và nội dung cốt lõi của quy định; tổ chức thực hiện.

I. BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH

Cách đây 20 năm, ngày 28 tháng 8 năm 2006, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Quy định số 15 về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng, thể hiện sự thừa nhận và cho phép đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân.

Qua 20 năm thực hiện, Quy định số 15 đã đạt được những kết quả tích cực, số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần lên 187.000 vào năm 2026. Nhiều đảng viên là doanh nhân, chủ doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp đã đóng góp thiết thực vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và công tác an sinh xã hội. Những kết quả đó khẳng định tính đúng đắn của chủ trương, đồng thời tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục đổi mới quy định của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Ảnh: Phạm Thắng

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Ảnh: Phạm Thắng

Tuy nhiên, mức độ tham gia của đảng viên vào hoạt động phát triển kinh tế tư nhân vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, nguồn lực và kỳ vọng. Trong tổng số hơn 5,6 triệu đảng viên, tỷ lệ đảng viên tham gia làm kinh tế tư nhân chỉ chiếm khoảng 3,31%, đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân chiếm 0,15% tổng số đảng viên toàn Đảng.

Nguyên nhân chủ yếu là Quy định số 15-QĐ/TW được xây dựng trong bối cảnh trước đây, chủ yếu điều chỉnh đảng viên ngoài khu vực công, một số quyền, giới hạn và trách nhiệm chưa được xác định đầy đủ theo địa vị pháp lý, chức danh, vị trí công tác và nguy cơ xung đột lợi ích. Việc quản lý chủ yếu dựa trên hình thức đứng tên, chưa bao quát đầy đủ quyền sở hữu, quyền chi phối, quyền quản lý điều hành và lợi ích thực tế. Cơ chế nhận diện, báo cáo, kiểm soát và xử lý xung đột lợi ích chưa được quy định đồng bộ.

Trong khi đó, khu vực công có lực lượng đảng viên rất lớn. Vì vậy, nếu chỉ điều chỉnh hoạt động kinh tế tư nhân của đảng viên ngoài khu vực công thì chưa đáp ứng yêu cầu phát huy nguồn lực của toàn Đảng cũng như yêu cầu quản lý phù hợp với từng nhóm đảng viên.

Mặt khác, Đảng ta xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất trong Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị. Việc thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước theo Nghị quyết 19 của Ban Chấp hành Trung ương và các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045, kinh tế tư nhân phải có những bước phát triển mạnh mẽ, đột phá hơn nữa, cần khơi thông mọi nguồn lực xã hội cùng với phát huy năng lực quản trị, tri thức, kinh nghiệm, vốn và tinh thần đổi mới sáng tạo.

Từ yêu cầu đó, trên cơ sở bám sát Điều lệ Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm rõ lý luận, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất ban hành Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh thay thế Quy định số 15 với phạm vi nội hàm rộng hơn, bám sát thực tiễn và phù hợp thông lệ quốc tế.

II. NHỮNG TƯ DUY MỚI VÀ NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA QUY ĐỊNH

Quy định mới khuyến khích tạo điều kiện đi đôi với kiểm soát và được xây dựng trên các quan điểm chỉ đạo lớn.

Một là, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên trong phát triển kinh tế. Đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, không chỉ tiên phong trong thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước mà còn phải có trách nhiệm tiên phong gương mẫu trong phát huy năng lực lao động sản xuất kinh doanh, làm giàu hợp pháp, chính đáng, có trách nhiệm với xã hội, môi trường và đóng góp tích cực vào sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ đó, tư duy quản lý chuyển từ chủ yếu xem xét cho phép sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực và nguồn lực hợp pháp, đồng thời mở rộng sự tham gia của một số nhóm đảng viên trong khu vực công theo những điều kiện cụ thể.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Hai là, chuyển từ tư duy quản lý chủ yếu theo danh mục được làm, không được làm sang cơ chế ba mức: được làm, được làm có điều kiện, có kiểm soát và không được làm gắn với kiểm soát xung đột lợi ích. Không áp dụng một giới hạn chung cho mọi đảng viên mà xác định quyền tham gia theo địa vị pháp lý, chức danh, vị trí công tác, chức trách nhiệm vụ và mức độ rủi ro xung đột lợi ích.

Ba là, chuyển trọng tâm kiểm soát từ hình thức đứng tên sang kiểm soát căn cứ vào quyền sở hữu, quyền chi phối và lợi ích thực tế.

Bốn là, gắn phát huy vai trò đảng viên trong phát triển kinh tế với giữ vững nguyên tắc kỷ luật và bản chất của Đảng. Đảng viên được mở rộng quyền đầu tư kinh doanh phải giữ gìn đạo đức, trách nhiệm nêu gương, liêm chính công vụ, không lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ, quyền hạn hoặc nguồn lực công để phục vụ lợi ích riêng. Phải gắn phát huy vai trò đảng viên trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng, xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước.

Năm là, bảo đảm đồng bộ giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có quy định chuyển tiếp phù hợp.

Kính thưa các đồng chí,

Về phân loại hoạt động đầu tư kinh doanh, quy định đã phân loại hoạt động đầu tư kinh doanh thành bốn nhóm.

Nhóm thứ nhất là hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập.

Nhóm thứ hai là đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành.

Nhóm thứ ba là đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có quyền chi phối nhưng không quản lý điều hành.

Nhóm thứ tư là đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có quyền chi phối. Việc phân loại này là cơ sở xác định quyền và giới hạn tham gia tương ứng với từng nhóm đảng viên.

Về quyền tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh theo từng nhóm đảng viên, điểm đổi mới quan trọng của quy định là xác định quyền, điều kiện và giới hạn theo từng nhóm đảng viên thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng nhất.

Cụ thể, đối với đảng viên ngoài khu vực công, đảng viên được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định và những hoạt động đầu tư kinh doanh khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức Đảng.

Tuy nhiên, nếu trường hợp được giao thực hiện nhiệm vụ công, đảng viên không được lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ trong Đảng hoặc quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tạo lợi thế bất bình đẳng, tác động trái quy định, phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm; không được xử lý công việc, nhiệm vụ có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát hoặc làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện nhiệm vụ công được giao.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Có cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng đảng viên ngoài khu vực công tiêu biểu tham gia khu vực công gắn với kiểm soát xung đột lợi ích.

Đối với đảng viên là cán bộ công chức, đảng viênđược thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với các hoạt động chuyên môn: khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối quản lý điều hành.

Đối với đảng viên là cán bộ công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, quy định đã mở rộng quyền được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối, không quản lý điều hành sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Tuy nhiên, cán bộ công chức đều không được tham gia quản lý điều hành tổ chức kinh tế.

Những cán bộ công chức ở vị trí lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích và cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý phải tuân thủ các giới hạn chặt chẽ hơn, không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, giữ cổ phần chi phối và quản lý điều hành.

So với Quy định số 15 -QĐ/TW, quyền tham gia đầu tư kinh doanh của đảng viên là cán bộ công chức được mở rộng nhưng không đồng nghĩa với việc được tự do tham gia mọi hình thức đầu tư. Việc xác định đúng chức danh, vị trí công tác và điều kiện chấp thuận có ý nghĩa quyết định.

Đối với đảng viên là viên chức, đảng viên được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với các hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối quản lý điều hành. Riêng viên chức không giữ chức vụ quản lý, không ở vị trí có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn được thực hiện đầu tư kinh doanh, có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý điều hành.

Điểm mới đáng chú ý là viên chức không giữ chức vụ quản lý còn có thể được tạm thời rời vị trí công tác để đầu tư thành lập, chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế theo quy định. Ngược lại, đối với đảng viên là viên chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích phải tuân thủ giới hạn chặt chẽ hơn, không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý điều hành. Viên chức giữ chức vụ quản lý không được đồng thời quản lý điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Đây là bước mở đáng chú ý tạo điều kiện phát huy tri thức, chuyên môn và năng lực đổi mới sáng tạo của viên chức.

Quy định mới đã mở rộng quyền lớn cho viên chức được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, trong khi Quy định số 15 trước đây không cho phép. Một số vị trí viên chức còn được quản lý điều hành, được tạm rời vị trí công tác để đầu tư thành lập chi phối, quản lý điều hành tổ chức kinh tế.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Đối với đảng viên đang công tác phục vụ trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, đảng viên được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với các hoạt động chuyên môn khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành.

Đối với những đảng viên không ở vị trí lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, quy định mở rộng quyền đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối nhưng không quản lý điều hành sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác, không phương hại đến quốc phòng an ninh theo quy định.

Về quy định không được làm, quy định đã nêu rõ đảng viên công tác tại vị trí lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý điều hành. Trong thời gian công tác phục vụ, đảng viên không được quản lý điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ. Như vậy, việc mở rộng quyền cho đảng viên đang công tác trong lực lượng vũ trang phải được xem xét đồng thời với yêu cầu kỷ luật, bảo mật và nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang.

Đối với đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, nhóm này được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với các hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập, đầu tư kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối quản lý điều hành; được mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông thành viên tại doanh nghiệp do mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo quy định pháp luật. Việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối, quản lý điều hành chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện và được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Đặc biệt, không được đầu tư kinh doanh trong ngành lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý, không được để hoạt động đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao.

Yêu cầu trọng tâm là phải tách bạch quyền, lợi ích cá nhân với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước, không để quyền lực quản lý, thông tin nội bộ hoặc nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước trở thành lợi thế kinh doanh riêng.

Đối với đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu và không còn công tác trong khu vực công, được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định và những hoạt động đầu tư kinh doanh khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Trừ các hoạt động bị hạn chế liên quan đến lĩnh vực công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo quy định của pháp luật. Trường hợp thôi giữ chức vụ nhưng tiếp tục công tác trong khu vực công, đảng viên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm theo chức danh, vị trí công tác mới.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Về yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm thực hiện, một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quy định là cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Quy định việc nhận diện, đánh giá, báo cáo, kiểm soát và xử lý xung đột lợi ích, trách nhiệm của cấp ủy tổ chức đảng, người đứng đầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân đảng viên khi xung đột lợi ích phát sinh hoặc khi được phát hiện. Trách nhiệm của cấp có thẩm quyền trong xem xét, quyết định biện pháp kiểm soát và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong phối hợp, chia sẻ, sử dụng thông tin, dữ liệu, hồ sơ theo thẩm quyền.

III. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Quy định gồm 3 chương, 14 điều. Trên cơ sở các nội dung của quy định, Ban Bí thư sẽ hướng dẫn cụ thể để thống nhất triển khai thực hiện. Đảng ủy Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội sẽ lãnh đạo chỉ đạo thể chế hóa các nội dung quy định. Quy định này xác định hoạt động đầu tư kinh doanh theo nghĩa rộng, bao gồm góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, thành lập tổ chức kinh tế, thực hiện dự án đầu tư, hợp đồng đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua bán nắm giữ chứng khoán và các hình thức đầu tư kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.

Kính thưa các đồng chí, quy định mới về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh là bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng, nhằm khơi thông mọi nguồn lực xã hội cùng với phát huy năng lực quản trị, tri thức, kinh nghiệm, vốn và tinh thần đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng ngừa xung đột lợi ích. Để quy định đi vào thực tiễn, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của các cấp ủy tổ chức đảng, chính quyền, sự gương mẫu tự giác của mỗi đảng viên.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí đã lắng nghe.

Thanh Hải ghi

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/phat-huy-nguon-luc-cua-doi-ngu-dang-vien-cho-phat-trien-kinh-te-10434217.html