Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực cho phát triển bền vững

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn được Đảng ta xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước. Công tác dân tộc, tôn giáo của tỉnh trong suốt 80 năm qua luôn được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của tỉnh, trở thành nền tảng quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58 thành lập Nha Dân tộc thiểu số - tiền thân của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ngày nay. Đây không chỉ là sự kiện mang ý nghĩa tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và tương trợ cùng phát triển.

Tại Cao Bằng, ngay từ những năm đầu của cách mạng, công tác dân tộc đã được đặt ở vị trí trung tâm trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Giai đoạn 1946 - 1955, công tác dân tộc trực thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Tỉnh ủy, tập trung vào nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh phục vụ kháng chiến. Trong các giai đoạn tiếp theo, từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến thời kỳ bảo vệ biên giới, nhân dân các dân tộc Cao Bằng luôn phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng. Những con đường dân công hỏa tuyến, những chuyến vận chuyển lương thực, vũ khí vượt núi băng rừng không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước, mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.

Sau chiến tranh, Cao Bằng bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển trong bối cảnh còn nhiều khó khăn: hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cao... Trong hoàn cảnh đó, công tác dân tộc, tôn giáo tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Các chương trình định canh định cư được triển khai, góp phần thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, giúp đồng bào từng bước ổn định cuộc sống. Các chính sách xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế được thực hiện đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc luôn bám sát cơ sở, “gần dân, hiểu dân, vì dân”, trở thành cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc. Chính sự tận tâm, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc đã góp phần đưa chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống, tạo sự đồng thuận xã hội sâu rộng.

Trong thời kỳ đổi mới, công tác dân tộc, tôn giáo tại Cao Bằng được triển khai toàn diện với hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện. Các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 24 và Nghị quyết số 25 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc, tôn giáo được quán triệt sâu rộng, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động. Các chương trình, đề án lớn như giảm thiểu tảo hôn, hỗ trợ dân tộc rất ít người, ứng dụng công nghệ thông tin trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những chuyển biến rõ nét. Hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, thể hiện qua sự tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội.

Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả toàn diện.

Đồng chí Hà Nhật Lệ Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, làm việc với Sở Dân tộc và Tôn giáo.

Đồng chí Hà Nhật Lệ Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, làm việc với Sở Dân tộc và Tôn giáo.

Công tác tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Hàng nghìn hội nghị tuyên truyền được tổ chức, thu hút hàng trăm nghìn lượt người tham gia; nội dung tuyên truyền ngày càng phong phú, phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số.

Hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đầu tư đồng bộ, từng bước hoàn thiện. Hệ thống giao thông, viễn thông, trường học, trạm y tế được nâng cấp, góp phần cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Đến nay, 96,3% số xã có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% số xã có sóng điện thoại di động và internet cáp quang. Giai đoạn 2021 - 2025, người dân và doanh nghiệp đã đóng góp hơn 33 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới. Toàn tỉnh có 174 sản phẩm OCOP, trong đó có 10 sản phẩm đạt 4 sao.

Công tác giảm nghèo, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả quả nổi bật, với hơn 19.000 hộ được hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát, tổng kinh phí trên 955 tỷ đồng. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được nâng lên rõ rệt; khoảng cách phát triển giữa các vùng từng bước được thu hẹp.

Công tác xây dựng hệ thống chính trị cơ sở được củng cố; đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ngày càng trưởng thành; vai trò của người có uy tín trong cộng đồng được phát huy hiệu quả. Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện đúng pháp luật, phù hợp với thực tiễn. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được bảo đảm; các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội và công tác an sinh.

Những kết quả đạt được đã góp phần cụ thể hóa quan điểm của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm phát triển bao trùm, bền vững, thu hẹp chênh lệch vùng, miền, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân tộc, tôn giáo tại Cao Bằng vẫn đối mặt với nhiều thách thức: điều kiện tự nhiên khó khăn, hạ tầng chưa đồng bộ, khoảng cách phát triển giữa các vùng còn lớn; một bộ phận nhân dân còn khó khăn về đời sống. Trong bối cảnh mới, với sự tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và các yếu tố phi truyền thống, công tác dân tộc, tôn giáo đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức triển khai. Điều đó đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm của Đảng, đồng thời nâng cao năng lực dự báo, chủ động xử lý các vấn đề phát sinh từ cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa, giữa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng với giữ vững ổn định xã hội.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, việc triển khai công tác dân tộc, tôn giáo cần tiếp tục bám sát tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu: phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách phát triển. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường của đồng bào.

80 năm xây dựng và phát triển, công tác dân tộc, tôn giáo tỉnh Cao Bằng đã khẳng định vai trò là nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trong bối cảnh mới, việc tiếp tục phát huy vai trò này không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Với sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng thuận của nhân dân và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, công tác dân tộc, tôn giáo được kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng vào sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hà Nhật Lệ, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/phat-huy-suc-manh-dai-doan-ket-toan-dan-toc-dong-luc-cho-phat-trien-ben-vung-3187551.html