Phát huy sức mạnh mềm, nâng cao năng lực hội nhập trong tư duy phát triển mới từ Nghị quyết 80

Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là văn kiện đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 và 80. (Ảnh VGP/Nhật Bắc)

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 và 80. (Ảnh VGP/Nhật Bắc)

Lần đầu tiên, văn hóa được đặt trong một cấu trúc phát triển rộng hơn, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước

Trước yêu cầu mới, việc phát huy vai trò của văn hóa trong hoạt động đối ngoại cần được đẩy mạnh, trở thành một phương thức kiến tạo sức mạnh mềm, nâng cao năng lực hội nhập, gia tăng uy tín quốc gia và đưa các giá trị Việt Nam tham gia sâu hơn vào đời sống kinh tế, chính trị quốc tế.

Bài 1: Đột phá vềchính sách

Bước vào thế kỷ XXI, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ giới hạn ở quy mô kinh tế, tiềm lực quân sự hay trình độ khoa học-công nghệ. Trong một thế giới kết nối toàn diện, đa nền tảng, hình ảnh quốc gia, sức hấp dẫn của giá trị văn hóa truyền thống, khả năng tham gia vào dòng chảy tri thức, sáng tạo toàn cầu ngày càng trở thành nguồn lực có sức ảnh hưởng lâu dài.

Trong bối cảnh đó, văn hóa đã và đang được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, giúp định hình nhận thức, bồi đắp lòng tin, mở rộng không gian hợp tác và tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho quốc gia trên trường quốc tế.

Từ nền tảng tinh thần đến nguồn lực chiến lược

Nghị quyết 80 khẳng định: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát triển văn hóa và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, sức mạnh mềm của quốc gia.

80 năm trước, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ngày 24/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Tư tưởng ấy cho thấy từ rất sớm, văn hóa đã được đặt ở vị trí dẫn dắt tinh thần dân tộc, bồi đắp nhân cách con người, tạo sức mạnh đoàn kết và bản lĩnh vượt qua thử thách. Quan điểm đó từng bước được thể chế hóa trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Các đại biểu dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tháng 11 năm 1946. (Ảnh tư liệu)

Các đại biểu dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tháng 11 năm 1946. (Ảnh tư liệu)

Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.

Nghị quyết đề ra yêu cầu đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ về văn hóa, hình thành cơ chế phối hợp, chỉ đạo tập trung các cơ quan và lực lượng làm công tác đối ngoại trên lĩnh vực văn hóa-thông tin.

Đến Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tư duy trên được củng cố và mở rộng với yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định rõ: Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới; nâng cao hiệu quả của ngoại giao văn hóa, quốc phòng, an ninh.

Trên phương diện quản lý nhà nước, Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 14/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ, xác định ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại Việt Nam.

Ba trụ cột này gắn bó, tác động lẫn nhau, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; trong đó ngoại giao chính trị có vai trò định hướng, ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất, ngoại giao văn hóa là nền tảng tinh thần của hoạt động đối ngoại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bản dập đúc trên mặt trống đồng Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam) ngày 13/2/1961. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bản dập đúc trên mặt trống đồng Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam) ngày 13/2/1961. (Ảnh tư liệu)

Mười năm sau, Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030, ban hành theo Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 30/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ, phát triển tinh thần này theo hướng thiết thực hơn: phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; nâng cao vị thế, uy tín quốc gia; phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết 80 ra đời trên cơ sở kế thừa các giá trị, đồng thời tạo ra một bước tiến mới về chất. Nếu trước đây văn hóa thường được nhấn mạnh ở vai trò nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực phát triển, thì nay văn hóa được đặt trong quan hệ trực tiếp với năng lực cạnh tranh, sức mạnh mềm, công nghiệp văn hóa, thị trường sáng tạo, chủ quyền văn hóa số và vị thế quốc gia trong trật tự quốc tế đang biến động.

Nghị quyết chỉ rõ: “Triển khai cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa truyền thông, ngoại giao văn hóa và xuất khẩu sản phẩm-dịch vụ công nghiệp văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm và dịch vụ văn hóa-sáng tạo mang bản sắc Việt Nam; xuất khẩu sản phẩm-dịch vụ văn hóa có sức cạnh tranh toàn cầu (điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực và phần mềm/nội dung số). Xây dựng và định hình thương hiệu, hàng hóa, sản phẩm Việt Nam mang giá trị văn hóa đặc sắc (như bền, đẹp, xanh, nhân văn…). Phát huy giá trị di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia”.

Đây chính là điểm mới quan trọng: văn hóa không chỉ được bảo tồn, phát huy, quảng bá, mà còn phải được tổ chức thành nguồn lực, định hình thương hiệu, được quản trị bằng thể chế hiện đại, tạo sức ảnh hưởng.

Đội ngũ văn nghệ sĩ tại Đại lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2025). (Ảnh: TRỌNG HẢI)

Đội ngũ văn nghệ sĩ tại Đại lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2025). (Ảnh: TRỌNG HẢI)

Tư duy mới về sức mạnh mềm

Học giả Joseph Nye, Giáo sư quan hệ quốc tế tại Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard, người đặt nền móng lý thuyết về “sức mạnh mềm” trong quan hệ quốc tế hiện đại, từng nhận định: Sức hấp dẫn của một quốc gia thông qua văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại có thể tạo ra ảnh hưởng không kém sức mạnh quân sự hay kinh tế (được ví như “quyền lực cứng”).

Trong kỷ nguyên số, điều này càng rõ rệt: một bộ phim phát hành trên nền tảng toàn cầu có thể đạt hàng trăm triệu lượt xem; một ca khúc có thể tạo xu hướng xuyên biên giới; một biểu tượng ẩm thực có thể kéo theo dòng khách du lịch; một lễ hội quốc tế có thể làm thay đổi cách thế giới hình dung về một thành phố, một vùng đất, một dân tộc.

Với Việt Nam, ngoại giao văn hóa có nền tảng đặc biệt: lịch sử lâu dài của tư tưởng hòa hiếu, trọng nghĩa, đề cao giá trị nhân văn; bản lĩnh vững vàng được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; một hệ giá trị nổi bật ở lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, ý chí độc lập, khả năng thích ứng và khát vọng vươn lên.

Từ “Nam quốc sơn hà”, “Bình Ngô đại cáo” đến tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời đại mới, văn hóa Việt Nam luôn thể hiện một bản sắc riêng: Mềm mại nhưng không yếu thế, cởi mở nhưng không hòa tan, nhân văn nhưng kiên định trong bảo vệ lợi ích dân tộc.

Nghị quyết 80 đưa những giá trị cốt lõi đó vào một chiến lược hành động có mục tiêu, nguồn lực triển khai và thước đo rõ ràng. Nghị quyết xác định: Xây dựng và phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước; khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Khái niệm “hệ điều tiết” là điểm mới đáng chú ý. Theo đó, văn hóa phải tham gia điều chỉnh cách phát triển, bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng và nhân văn, giữa thị trường và đạo đức, giữa hội nhập và bản sắc, giữa công nghệ và trách nhiệm xã hội.

Với ngoại giao văn hóa, các hoạt động giới thiệu Việt Nam ra thế giới phải được đặt trên một nền tảng giá trị nhất quán, góp phần khẳng định Việt Nam là quốc gia yêu chuộng hòa bình, giàu bản sắc, nhân văn, trách nhiệm, sáng tạo và đáng tin cậy. Trong 8 nhiệm vụ giải pháp được đề ra trong Nghị quyết 80, có nhiệm vụ “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia”.

Các nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn tại lễ hội văn hóa và giới thiệu du lịch Việt Nam hướng tới kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc và "Năm giao lưu nhân văn Việt-Trung" năm 2025. (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Các nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn tại lễ hội văn hóa và giới thiệu du lịch Việt Nam hướng tới kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc và "Năm giao lưu nhân văn Việt-Trung" năm 2025. (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Nghị quyết 80 định hình tư duy phát triển mới. Thứ nhất, cùng với quảng bá hình ảnh còn cần tích cực xây dựng thương hiệu quốc gia. Quảng bá có thể tạo sự chú ý nhất thời, nhưng thương hiệu quốc gia đòi hỏi tính nhất quán, chiều sâu và khả năng ghi nhớ lâu bền. Thứ hai, từ giao lưu văn hóa sang cạnh tranh sức hấp dẫn. Trong thế giới phẳng, mỗi quốc gia đều chú trọng kể câu chuyện của mình; do đó quốc gia nào kể được câu chuyện chân thực, tạo sự khác biệt và có năng lực lan tỏa sẽ có lợi thế. Thứ ba, từ hoạt động đơn lẻ sang hệ sinh thái ngoại giao văn hóa, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp phát triển sản phẩm, văn nghệ sĩ và cộng đồng sáng tạo làm giàu nội dung, truyền thông và nền tảng số mở rộng biên độ tiếp cận, mỗi người dân, mỗi kiều bào đều có thể trở thành một đại sứ văn hóa.

Văn hóa nằm trong chiến lược phát triển với mục tiêu cụ thể

Một trong những đột phá nổi bật của Nghị quyết 80 là chuyển văn hóa từ lĩnh vực vốn được cho là khó đo lường thành một phần của chiến lược phát triển có mục tiêu cụ thể.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang; xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật; thành lập thêm từ 1 đến 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện; phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.

Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8-10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh; phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Những chỉ tiêu này rất quan trọng, vì khi công nghiệp văn hóa được đặt mục tiêu đóng góp vào GDP, và xây dựng thương hiệu quốc gia thì ngoại giao văn hóa không còn vận hành chủ yếu bằng nghi lễ hay hoạt động có tính bổ trợ mà phải gắn với thị trường, công chúng, năng lực cạnh tranh, quyền sở hữu trí tuệ, chiến lược truyền thông quốc tế và khả năng tạo ra giá trị gia tăng.

Thực tiễn gần đây, ngoại giao văn hóa Việt Nam đang có những chuyển động tích cực. Chỉ tính riêng trong năm 2025, Việt Nam tiếp tục tham gia sâu vào các cơ chế của UNESCO, được bầu làm Phó Chủ tịch kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO; sáng kiến của Việt Nam về Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững được UNESCO đánh giá cao. Đây là minh chứng sinh động cho việc Việt Nam đang tham gia vào quá trình định hình nghị trình văn hóa toàn cầu, từ vị thế người hưởng ứng sang vị thế người đóng góp sáng kiến.

Đầu năm 2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí, chia sẻ những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, về ngoại giao văn hóa, Bộ trưởng đánh giá: Ngoại giao văn hóa triển khai bài bản, tổ chức thành công Đại lễ Vesak, vận động 7 danh hiệu mới, đưa tổng số danh hiệu UNESCO của Việt Nam lên 77. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, không chỉ quảng bá hình ảnh quốc gia mà còn bảo vệ nền tảng tư tưởng, lợi ích đất nước trong môi trường thông tin phức tạp.

Chương trình nghệ thuật kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản. (Ảnh: VGP/Lưu Hương)

Chương trình nghệ thuật kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản. (Ảnh: VGP/Lưu Hương)

Việt Nam chúng ta có một lợi thế lớn về hình ảnh một đất nước đổi mới, hội nhập, năng động nhưng luôn coi trọng bản sắc; nền văn hóa giàu đa dạng, từ di sản vật thể, phi vật thể đến đời sống đương đại; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đông đảo, gắn bó mật thiết với cội nguồn; nền ẩm thực phong phú, cũng với các lĩnh vực nghệ thuật, thủ công truyền thống, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, nội dung số đang có nhiều dư địa phát triển. Nhưng lợi thế chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức thành chiến lược bài bản.

Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng chiều sâu truyền thống, mà còn bởi năng lực sáng tạo và năng lực sản xuất những sản phẩm văn hóa chất lượng cao, có sức lan tỏa và có thị trường.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng chiều sâu truyền thống, mà còn bởi năng lực sáng tạo và năng lực sản xuất những sản phẩm văn hóa chất lượng cao, có sức lan tỏa và có thị trường”.

Nghị quyết 80 mở ra khả năng kết nối các nguồn lực vốn lâu nay còn phân tán. Trong bối cảnh đó, ngoại giao văn hóa có lợi thế lớn, trở thành điểm kết nối quan trọng giữa nhiều lĩnh vực, huy động sức mạnh mềm đóng góp vào sự phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới.

(Còn nữa)

PHONG ĐIỆP

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-huy-suc-manh-mem-nang-cao-nang-luc-hoi-nhap-trong-tu-duy-phat-trien-moi-tu-nghi-quyet-80-post973660.html