Phát triển chuỗi giá trị, nâng sức cạnh tranh cho dược liệu Việt
Việt Nam có lợi thế về tài nguyên dược liệu, song sản xuất và xuất khẩu vẫn chưa tương xứng tiềm năng. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vùng trồng, chế biến sâu, đồng thời tháo gỡ rào cản kỹ thuật là hướng đi để nâng giá trị và mở rộng thị trường cho dược liệu Việt Nam
Doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đa dạng và nguồn tài nguyên thực vật phong phú, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển cây dược liệu. Từ các vùng núi phía Bắc đến Tây Nguyên, nhiều địa phương sở hữu hệ sinh thái phù hợp với những loài dược liệu có giá trị kinh tế cao. Đây không chỉ là hướng phát triển sản xuất nông nghiệp mà còn mở ra cơ hội hình thành các chuỗi giá trị từ trồng trọt, sơ chế đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Tại khu vực Tây Nguyên, tiềm năng này đang được chú ý khai thác. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), khu vực ba tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk hiện có tổng diện tích trồng dược liệu hơn 6.100 ha. Riêng toàn vùng có khoảng 2,67 triệu ha đất trồng trọt, là địa bàn trọng điểm về cây công nghiệp và cây ăn quả của cả nước.
Lợi thế về quỹ đất, khí hậu và hệ sinh thái tạo điều kiện để Tây Nguyên phát triển các vùng nguyên liệu dược liệu, trong đó có những loại cây có giá trị kinh tế cao như sâm Ngọc Linh và các loài dược liệu bản địa...
Thực tế tại Tây Nguyên cho thấy, nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk đã đạt mức thu nhập từ 500 triệu đồng đến hàng tỷ đồng/ha.
Một trong những hướng đi để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây dược liệu là thu hút doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu lựa chọn giống, phát triển vùng trồng, đầu tư công nghệ đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, doanh nghiệp đang quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực này.

Vườn dược liệu của Trường Sinh Group. Ảnh: Trường Sinh Group.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc dự án của Trường Sinh Group cho biết, doanh nghiệp đã phát triển vùng trồng 12 ha dược liệu tại Sìn Hồ, Lai Châu, với vốn đầu tư 50 tỷ đồng; đồng thời hợp tác liên kết bao tiêu sâm Ngọc Linh tại Trà Linh, Nam Trà My, với quy mô dự kiến 500 tỷ đồng.
Tại Gia Lai, doanh nghiệp đang hoàn thiện thủ tục dự án phát triển vùng trồng sâm Ngọc Linh và dược liệu dưới tán rừng tại xã Đăk Rong, diện tích 850 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp cũng dự kiến đầu tư cụm 6 nhà máy chế biến tại Khu công nghiệp Trà Đa, Gia Lai, trên diện tích hơn 7 ha, với tổng vốn trên 700 tỷ đồng...
Gỡ rào cản kỹ thuật, mở đường xuất khẩu dược liệu
Dù có tiềm năng về nguồn nguyên liệu, xuất khẩu dược liệu Việt Nam vẫn chưa tương xứng với lợi thế. Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu là bài toán ngành dược liệu cần giải quyết.
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, các nước nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, ngành dược liệu phải chuyển trọng tâm sang chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và đẩy mạnh chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm.
Nếu thiếu sự liên kết này, các sản phẩm có thể gặp khó khăn khi chứng minh nguồn gốc hoặc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật cụ thể.
Đối với vấn đề này, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc điều hành Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (Văn phòng SPS Việt Nam) cũng cho biết, các sản phẩm dược liệu đã qua chế biến thành thực phẩm chức năng để xuất khẩu, doanh nghiệp phải tuân thủ quy định cụ thể của thị trường nhập khẩu. Trung Quốc là một ví dụ đáng chú ý.
Theo dữ liệu của Văn phòng SPS Việt Nam, Trung Quốc đã mở cửa cho hơn 4.000 sản phẩm và nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm của Việt Nam, bao gồm thủy sản, sản phẩm có nguồn gốc thực vật và sản phẩm có nguồn gốc động vật đã qua chế biến. Tuy nhiên, đến nay chưa có sản phẩm chế biến nào có nguồn gốc từ dược liệu của Việt Nam được mở cửa vào thị trường này.
Điều này cho thấy mở cửa thị trường chưa đồng nghĩa với việc mọi sản phẩm đều có thể xuất khẩu thuận lợi. Mỗi nhóm hàng chịu sự điều chỉnh của những quy định khác nhau; doanh nghiệp cần xác định đúng cơ quan quản lý, nắm rõ yêu cầu hồ sơ và chủ động phối hợp để từng bước tháo gỡ vướng mắc.
Ông Nam lưu ý, đối với các sản phẩm dược liệu chế biến thành thực phẩm chức năng xuất khẩu sang Trung Quốc, doanh nghiệp cần tìm hiểu và tuân thủ quy định tại Nghị định 248 của nước này, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026. Việc chủ động nắm bắt quy định và phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành là yêu cầu cần thiết để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình tiếp cận thị trường.

Sản phẩm trà xạ đen - cà gai leo Happy Life đạt chuẩn OCOP 3 sao. Ảnh: Nguyễn Thuấn
Không chỉ Trung Quốc, tại các thị trường khác, yêu cầu kỹ thuật cũng là vấn đề doanh nghiệp không thể xem nhẹ. Trong khi đó, Việt Nam đã tham gia 18 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều hiệp định thế hệ mới, tạo lợi thế về thuế quan và khả năng tiếp cận thị trường. Dự kiến, trong thời gian tới sẽ có hơn 20 FTA, mở rộng cơ hội xuất khẩu nông sản, thực phẩm tới hơn 60 thị trường trọng điểm.
Tuy nhiên, ngành dược liệu vẫn chưa tận dụng hiệu quả những ưu đãi này, nhất là khi các yêu cầu kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt; ưu đãi thuế quan không thay thế các điều kiện về an toàn thực phẩm và kiểm dịch mà nước nhập khẩu đặt ra.
Văn phòng SPS Việt Nam kỳ vọng trong thời gian tới, các sản phẩm dược liệu của Việt Nam, từ sản phẩm tươi đến sản phẩm đã qua chế biến, sẽ từng bước tiếp cận được nhiều thị trường, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu trọng điểm, góp phần thúc đẩy xuất khẩu nông sản, thực phẩm.
Chẳng hạn, tại thị trường EU, mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) được quy định cụ thể theo từng sản phẩm, không áp dụng chung cho tất cả các loại cây dược liệu. Vì vậy, doanh nghiệp và người sản xuất cần tìm hiểu loại thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và giới hạn dư lượng tương ứng với sản phẩm dự kiến xuất khẩu.
Từ thực tế đó, Văn phòng SPS Việt Nam cam kết cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất tiếp cận các quy định của thị trường nhập khẩu, từ yêu cầu về dư lượng đến những điều kiện cần đáp ứng để đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.
Ở cấp trung ương, doanh nghiệp có thể liên hệ Văn phòng SPS Việt Nam để được hướng dẫn. Tại địa phương, theo thông tin được cung cấp, cả 34 tỉnh, thành phố đều đã có đầu mối hỏi đáp về an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh. Doanh nghiệp có thể liên hệ cơ quan chuyên môn tại địa phương hoặc tra cứu thông tin đầu mối, địa chỉ và số điện thoại trên trang thông tin điện tử của Văn phòng SPS Việt Nam.
Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên ngành thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Công thương cũng có trách nhiệm hỗ trợ theo lĩnh vực quản lý. Đối với sản phẩm thực phẩm chức năng từ dược liệu, doanh nghiệp cần liên hệ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế. Với sản phẩm chế biến dưới dạng nước giải khát hoặc các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghiệp thực phẩm, doanh nghiệp cần tìm hiểu đầu mối quản lý phù hợp để được hướng dẫn về quy định và thông tin thị trường.
