Phát triển công nghiệp đóng tàu: Động lực trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra mục tiêu đến năm 2030 xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và xác định tầm nhìn phát triển đến năm 2045. Đồng thời, Kết luận số 18-KL/TW có nêu yêu cầu cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng trong đó có đóng tàu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; công nghiệp đóng tàu có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển và nâng cao năng lực quốc gia trên biển.

Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt công nghiệp hàng hải và ngành đóng tàu vào trung tâm của chiến lược tái cấu trúc. Ảnh: SBIC

Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt công nghiệp hàng hải và ngành đóng tàu vào trung tâm của chiến lược tái cấu trúc. Ảnh: SBIC

Trong bối cảnh đó, công nghiệp đóng tàu không chỉ là một ngành sản xuất, mà là một cấu phần của hạ tầng công nghiệp - logistics - kinh tế biển, có vai trò trực tiếp trong việc hình thành năng lực quốc gia trên biển và đảm bảo quốc phòng - an ninh biển.

Ngành công nghiệp đóng tàu chuyển mình, khẳng định vai trò quan trọng

Thực tế hiện nay, trong bối cảnh diễn ra các cuộc xung đột quốc tế… cùng với sự cạnh tranh chiến lược khốc liệt giữa nhiều cường quốc và chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại hàng hải toàn cầu, ngành đóng tàu nói chung, ngành vận tải biển, logistics Việt Nam mang ý nghĩa vượt xa một lĩnh vực sản xuất thông thường.

Đây là mắt xích then chốt giúp Việt Nam duy trì tự chủ kinh tế biển, giảm phụ thuộc vào đội tàu và dịch vụ nước ngoài, đồng thời tạo nền tảng vật chất cho năng lực bảo vệ chủ quyền và hiện diện trên biển, đảo.

Vận tải biển hiện đảm nhận 80%-90% khối lượng thương mại toàn cầu, theo số liệu thống kê Việt Nam cũng chiếm khoảng 80% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển. Điều đó cho thấy năng lực vận tải biển và các ngành liên quan, trong đó ngành đóng tàu có vai trò lớn đối với kinh tế Việt Nam.

Thị trường đóng tàu thế giới hiện có quy mô khoảng 150-180 tỷ USD mỗi năm, tập trung chủ yếu ở nhóm 1 gồm các quốc gia: Trung Quốc (khoảng 45%-50%), Hàn Quốc (25%-30%) và Nhật Bản (15%-20%). Việt Nam thuộc nhóm thứ 2, cùng với Philippines và Ấn Độ. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có ngành đóng tàu phát triển trên thế giới, có thời điểm đạt thứ hạng cao, song chưa duy trì vị trí này một cách ổn định.

Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có năng lực đóng tàu hàng đầu thế giới, vượt qua nhiều quốc gia tên tuổi, đứng thứ 4 toàn cầu. Các doanh nghiệp đóng tàu đã làm chủ công nghệ đóng tàu hiện đại, tàu vỏ thép, tàu tải trọng lớn (như tàu hàng rời 70.000 DWT, tàu container 1.700 TEU, tàu dầu-hóa chất 10.000 - 13.000 DWT, tàu tuần tra).

Theo dự báo của nhiều tổ chức uy tín trên thế giới về hàng hải, giai đoạn 2024-2028, quy mô thị trường đóng tàu dự kiến sẽ tăng hơn 22 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân gần 4%/năm và sẽ dự kiến đạt khoảng 195 tỷ USD vào năm 2030. 

Giai đoạn 2024-2033, hơn 70% nhu cầu thay thế thuộc về tàu hàng rời và tàu chở dầu. Trong đó, 60% nhu cầu đóng tàu mới trong giai đoạn 2024-2033 đến từ yêu cầu về môi trường và nhu cầu thay thế đội tàu già trên 20 năm tuổi. Trong đó, phân khúc tàu xanh, sử dụng năng lượng tái tạo, vận hành tiết kiệm nhiên liệu đang được các chủ tàu quốc tế ưu tiên. 

Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành Giao thông vận tải cũng đặt mục tiêu giai đoạn 2031-2050 chuyển đổi toàn bộ tàu biển nội địa sang năng lượng xanh. Đây là cơ hội lớn cho ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam.

Bên cạnh đó, ngành đóng tàu Việt Nam đang bắt nhịp theo xu hướng: tàu chuyển đổi xanh (LNG, hydrogen, điện….); tự động hóa, số hóa; gia tăng nhu cầu tàu, thiết bị nổi chuyên dụng như: tàu dịch vụ điện gió xa bờ, dầu khí, tàu nuôi trồng thủy sản… Trong bối cảnh cạnh tranh chuỗi cung ứng và địa chính trị, ngành đóng tàu hội đủ yếu tố trở thành ngành công nghiệp nền tảng, tạo giá trị lan tỏa để đóng góp phát triển kinh tế và tăng trưởng GDP.

Ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam đang chuyển mình, khẳng định vai trò quan trọng. Ảnh: N.Lộc

Ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam đang chuyển mình, khẳng định vai trò quan trọng. Ảnh: N.Lộc

Trong bối cảnh chi phí logistics của Việt Nam hiện vẫn ở mức cao (ước khoảng 16-18% GDP), trong đó vận tải biển và thủy nội địa đóng vai trò then chốt. Trong khi ngành đóng tàu tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng logistics, do đó, đóng tàu là “đầu vào cấu trúc” của logistics, nếu không phát triển thì không thể giảm chi phí một cách bền vững.

Đóng tàu là nền tảng để phát triển vận tải biển, khai thác dầu khí - năng lượng ngoài khơi và phát triển các ngành kinh tế biển (cảng biển, dịch vụ hàng hải). Đồng thời đây là ngành đòi hỏi công nghệ cao, giúp nâng cấp trình độ công nghiệp quốc gia (thiết kế, tự động hóa, vật liệu, AI…)

Do đó, nếu không có ngành đóng tàu Việt Nam mạnh, thì chúng ta có thể sẽ trở thành quốc gia xuất khẩu hàng hóa nhưng phụ thuộc logistics ngoại, khó đạt tăng trưởng cao bền vững và tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng. Quan trọng và nguy hiểm hơn đó là sự bị động về quốc phòng - an ninh

Động lực trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Ngành đóng tàu có hiệu ứng lan tỏa rất lớn: Một đơn hàng đóng tàu kéo theo nhu cầu của hàng chục ngành: thép, cơ khí, điện - điện tử, sơn, vật liệu, dịch vụ kỹ thuật, tài chính, bảo hiểm… 

Giá trị thực hiện các nhà thầu Việt Nam trong chuỗi giá trị đóng tàu còn thấp, khoảng 20%-30%. Việt Nam đã vươn lên xếp khoảng thứ 4-5 thế giới trong một số phân khúc đóng tàu, đặc biệt đối với tàu thương mại cỡ trung bình. Đặc điểm nổi bật của ngành đóng tàu theo các nghiên cứu mới nhất của tổ chức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về chuỗi giá trị ngành đóng tàu, đáng chú ý như sau:

TS. Phạm Hoài Chung. Ảnh: N.Lộc

Theo ước tính, mỗi 1 USD giá trị tạo ra trong ngành có thể kéo theo khoảng 2-3 USD trong chuỗi cung ứng công nghiệp và tổng cộng 3-5 USD trong toàn bộ hệ sinh thái vận tải biển - công nghiệp - logistics.

Theo các nghiên cứu quốc tế, mỗi 01 việc làm ngành đóng tàu có khả năng tạo ra 10-20 việc làm gián tiếp trong công nghiệp phụ trợ, và tổng tác động đến toàn bộ nền kinh tế có thể vượt trên >20 lần, phản ánh hệ số lan tỏa kinh tế - xã hội rất cao.

Như vậy, ngành đóng tàu Việt Nam có thể ước tính đạt giá trị lan tỏa mạnh nếu được đầu tư đảm bảo nhu cầu sẽ góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp, theo nghiên cứu của OECD và tổ chức kinh tế thương mại lớn nhất thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UNCTAD) cho thấy tổng giá trị của toàn bộ hệ sinh thái vận tải biển - công nghiệp - logistics Việt Nam mà được quan tâm đầu tư sẽ tạo giá trị ước khoảng 10-15 tỷ USD/năm cho nền kinh tế Việt Nam; giải quyết khoảng 35.000-40.000 việc làm trực tiếp và lan tỏa tạo ra khoảng 500.000-700.000 việc làm gián tiếp. 

Nếu so sánh tiếp với quy mô của nền kinh tế Việt Nam 2025 là khoảng 450 tỷ USD/năm và dự báo đến năm 2030 quy mô nền kinh tế nước ta lên xấp xỉ 750-780 tỷ USD thì giá trị đóng góp của ngành đóng tàu Việt Nam và hệ sinh thái công nghiệp dự báo có thể tăng thêm gấp 1,8-2,5 lần.

Vì vậy, nếu được tổ chức đúng (chuỗi cung ứng nội địa + năng lực thiết kế + tài chính), đóng tàu có thể trở thành “cực tăng trưởng công nghiệp”, đóng góp đáng kể vào mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp đóng tàu

Đảng và Nhà nước ta trong nhiều thập kỷ qua đã hết sức quan tâm phát triển các ngành kinh tế hàng hải thông qua nhiều chủ trương đúng đắn như Nghị quyết số 36-NQ/TW, mới đây là Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ngành đóng tàu vào trung tâm của chiến lược tái cấu trúc, chuyển dịch từ khai thác đơn thuần sang phát triển hệ sinh thái biển hiện đại. 

Đồng thời, theo Kết luận số 18-KL/TW vừa qua đã coi ngành đóng tàu là công nghiệp nền tảng quốc gia cho thấy cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành đóng tàu vượt qua tình trạng khó khăn, manh mún, lạc hậu và khi đó tạo ra “đòn bẩy kép”: Vừa kéo tăng trưởng công nghiệp, vừa kéo giảm chi phí logistics.

Chú trọng phát triển ngành công nghiệp đóng tàu. Ảnh: VIMC

Chú trọng phát triển ngành công nghiệp đóng tàu. Ảnh: VIMC

Ngành công nghiệp đóng tàu là động lực trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Ảnh: SBIC

Ngành công nghiệp đóng tàu là động lực trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Ảnh: SBIC

Do đó, cần nghiên cứu thúc đẩy một số định hướng chiến lược cốt lõi:

Sớm xây dựng Chiến lược phát triển đội tàu quốc gia gắn với đơn hàng trong nước và Chiến lược phát triển công nghiệp đóng tàu Việt Nam là nền tảng cho triển khai thực hiện dài hạn.

Nhanh chóng quy hoạch và hình thành phát triển cụm công nghiệp đóng tàu - logistics - cảng biển tại các khu vực có tiềm năng nổi trội nhằm kéo giảm chi phí logistics một cách bền vững.

Có cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho ngành công nghiệp đóng tàu tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, thị trường, khoa học công nghệ, nhân lực (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật…)

Ưu tiên các doanh nghiệp đóng tàu trong nước được thực hiện các đơn hàng đóng mới của các doanh nghiệp logistics trong nước với các dòng tàu phục vụ trực tiếp logistics nội địa: tàu container feeder; tàu ven biển; tàu sông - biển; Tập trung vào phân khúc có lợi thế (tàu vừa và nhỏ, tàu chuyên dụng, tàu xanh) cho xuất khẩu.

Sau gần ba thập kỷ vật lộn với khó khăn, suy thoái, đến nay ngành đóng tàu Việt Nam đã và đang và khẳng định vị thế với thế giới về năng lực, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền.

Ngành đóng tàu đã chuyển mình sang đóng tàu kỹ thuật cao, tàu xanh và tự chủ đóng mới tàu quân sự hiện đại. Ảnh: SBIC

Ngành đóng tàu đã chuyển mình sang đóng tàu kỹ thuật cao, tàu xanh và tự chủ đóng mới tàu quân sự hiện đại. Ảnh: SBIC

Cùng với sự quyết liệt để tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy (SBIC) và những quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước và các Bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Xây dựng, ngành đóng tàu đã chuyển mình sang đóng tàu kỹ thuật cao, tàu xanh và tự chủ đóng mới tàu quân sự hiện đại, dù vẫn đối mặt với khó khăn tài chính và thách thức công nghệ.

Có thể nói, ngành công nghiệp đóng tàu không chỉ là một ngành sản xuất thuần túy, mà đang trở thành công cụ quyền lực quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và bất ổn toàn cầu hiện nay cũng như làm chủ chuỗi cung ứng logistics và giảm chi phí logistics một cách bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay. Vì vậy nước nào làm chủ đóng tàu tốt thì nước đó nắm lợi thế về kinh tế, quân sự và chuỗi cung ứng./

TS. PHẠM HOÀI CHUNG - PHÓ CHỦ TỊCH HỘI KHOA HỌC KỸ THUẬT TÀU THỦY VIỆT NAM

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/phat-trien-cong-nghiep-dong-tau-dong-luc-truc-tiep-cho-muc-tieu-tang-truong-hai-con-so