Phát triển du lịch tại Gia Lai: Nối biển với đại ngàn
Từ biển Quy Nhơn, Kỳ Co, Eo Gió đến Biển Hồ, Chư Đăng Ya và không gian văn hóa cồng chiêng, Gia Lai có điều kiện hình thành những hành trình du lịch đa dạng. Nhưng để lợi thế ấy chuyển thành giá trị kinh tế, tỉnh cần giải bài toán giao thông, vận chuyển, lưu trú và dịch vụ giữa các điểm đến, qua đó giữ chân du khách lâu hơn.

Bình minh trên làng biển Xuân Thạnh, xã Phù Mỹ Đông, tỉnh Gia Lai. (Ảnh: NGUYỄN PHAN DŨNG NHÂN)
Không gian phát triển mới đang đặt Gia Lai trước một lợi thế rõ rệt về cấu trúc tài nguyên du lịch. Những điểm đến trước đây thuộc về hai không gian du lịch khá tách biệt nay có điều kiện bổ trợ cho nhau. Vấn đề là tổ chức thế nào để du khách có thể đi qua các điểm đến ấy thuận tiện, thay vì mỗi nơi vẫn phát triển một cách riêng lẻ.
Khi điểm đến chưa thành chuỗi
Tại khu vực phía đông tỉnh, du lịch biển thường bùng nổ vào mùa hè, nhưng chịu sức ép lớn bởi tính mùa vụ. Khi bước vào mùa mưa bão, công suất phòng và hoạt động dịch vụ du lịch ven biển giảm mạnh. Trong khi đó, phía tây có nhiều sản phẩm phù hợp với mùa thu-đông như mùa hoa dã quỳ nở, mùa thu hoạch cà-phê, song khả năng giữ chân du khách qua đêm còn hạn chế. Mức chi tiêu thấp, thời gian lưu trú ngắn và thiếu dịch vụ bổ trợ khiến nhiều du khách khó tìm được những trải nghiệm phù hợp khi đêm xuống.
Chị Nguyễn Thu Trang, du khách từ Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, chị từng tính toán lịch trình khá đơn giản cho gia đình: Buổi sáng tắm biển Quy Nhơn, chiều lên Pleiku ngắm hoàng hôn và tối thưởng thức tiệc BBQ phố núi. Thực tế, quãng đường di chuyển giữa hai trung tâm mất gần 5 giờ khiến cả gia đình mệt mỏi khi đến nơi.
Theo chị Trang, nếu có một ứng dụng hoặc hệ thống thông tin thống nhất, việc tìm lịch biểu diễn văn hóa cồng chiêng, các tour trải nghiệm cà-phê hay những điểm tham quan phù hợp với gia đình sẽ thuận tiện hơn. “Đường đi khá xa, dịch vụ ở điểm đến lại chưa nhiều, cho nên gia đình tôi chỉ ở Pleiku một đêm rồi quay về Quy Nhơn”, chị Trang chia sẻ.
Đây là một trong những khoảng trống của du lịch Gia Lai hiện nay. Sự thiếu đồng bộ về hạ tầng giao thông là một nguyên nhân, nhưng trở ngại còn nằm ở cách tổ chức dịch vụ. Du khách có thể đặt phòng ở một nơi, mua vé ở một nơi khác, tìm thông tin điểm đến trên những nền tảng khác nhau. Nhưng khi đến địa phương, việc di chuyển, lựa chọn dịch vụ và sắp xếp thời gian cho từng trải nghiệm vẫn chủ yếu do du khách tự tính toán. Dữ liệu về điểm đến, lịch biểu diễn văn hóa, tour nông nghiệp, dịch vụ vận chuyển và các sản phẩm trải nghiệm còn phân tán, chưa tạo thành một hệ thống thông tin thống nhất.
Kinh nghiệm từ một số trung tâm du lịch cho thấy, khi giao thông, lưu trú, vận chuyển và hạ tầng số được tính toán đồng bộ, các điểm đến có thể bổ trợ cho nhau thay vì phát triển riêng lẻ.
Thí dụ, thành phố Đà Nẵng thành công nhờ mô hình logistics đô thị du lịch thông minh, nơi sân bay nằm ngay trong lòng thành phố và hạ tầng số (Smart City) phủ sóng toàn diện, giúp du khách dễ dàng biến nơi đây thành “Hub” trung chuyển đi Hội An hay Huế. Trong khi đó, tỉnh Khánh Hòa tận dụng lợi thế sân bay quốc tế Cam Ranh và hệ thống cảng biển để thu hút các tập đoàn quản lý khách sạn hàng đầu thế giới như Accor, Marriott, InterContinental... và của Việt Nam như Vinpearl, qua đó, định hình rõ các phân khu du lịch nghỉ dưỡng biển, sinh thái rừng và du lịch phục hồi sức khỏe, chữa bệnh.

Du khách trải nghiệm không gian văn hóa cồng chiêng cuối tuần ở phường Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Từ góc độ kinh tế, Tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia phân tích: Chi phí logistics của Việt Nam hiện đang chiếm tới 18% GDP, cao hơn nhiều so với mức trung bình 12% của khu vực. Chi phí này làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và du lịch cũng chịu tác động trực tiếp. Theo ông Lịch, trong ngành du lịch, dịch vụ càng phân tán, thời gian di chuyển giữa các điểm đến càng dài thì chi phí của chuyến đi càng tăng. Điều này gây khó cho việc thu hút nhóm khách có mức chi tiêu cao và nhu cầu trải nghiệm đa dạng. Lấy thí dụ từ Thái Lan, quốc gia đã chuyển đổi từ mô hình “điểm du lịch” sang “vùng du lịch” từ hơn 15 năm trước, ông Lịch cho biết, một điểm đến đơn lẻ dù hấp dẫn đến đâu cũng khó giữ chân khách quá hai ngày. Nhưng khi được tổ chức thành một vùng du lịch với mạng lưới logistics thông suốt và hạ tầng số hiện đại, thời gian lưu trú có thể kéo dài từ 5-11 ngày. Ngoài ra, một vấn đề khác tại nước ta là nhiều địa phương chú trọng các dự án bất động sản nghỉ dưỡng, nhưng chưa đầu tư tương xứng cho hạ tầng số và hạ tầng kết nối nội bộ.
“Logistics du lịch vừa là điểm yếu nhất hiện nay, nhưng cũng chính là điểm cần tạo đột phá chiến lược nhất của Gia Lai và toàn vùng Tây Nguyên”, Tiến sĩ Trần Du Lịch nhấn mạnh.
Tích hợp giá trị liên vùng
Bài toán phát triển du lịch của Gia Lai, vì thế, không dừng ở việc đưa du khách từ biển lên núi, hay rút ngắn thời gian di chuyển giữa các điểm đến. Quan trọng hơn, cần tạo ra một hành trình đủ thuận tiện để du khách có lý do ở lại lâu hơn và sử dụng nhiều dịch vụ hơn.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đỗ Thị Diệu Hạnh cho rằng, khi tuyến đường cao tốc Quy Nhơn-Pleiku hoàn thành sẽ rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa núi và biển. Từ đó, có thể hình thành những hành trình du lịch liên tỉnh với nhiều sản phẩm nối tiếp nhau. Du khách có thể đón bình minh, tắm biển tại Quy Nhơn, đến trưa di chuyển lên Pleiku thưởng thức cà-phê đại ngàn, buổi chiều khám phá không gian văn hóa cồng chiêng tại các làng bản lâu đời và ngày hôm sau di chuyển lên Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh để trải nghiệm du lịch thương mại biên giới.
Khi tuyến đường cao tốc Quy Nhơn-Pleiku hoàn thành sẽ rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa núi và biển. Từ đó, có thể hình thành những hành trình du lịch liên tỉnh với nhiều sản phẩm nối tiếp nhau. Du khách có thể đón bình minh, tắm biển tại Quy Nhơn, đến trưa di chuyển lên Pleiku thưởng thức cà-phê đại ngàn, buổi chiều khám phá không gian văn hóa cồng chiêng tại các làng bản lâu đời và ngày hôm sau di chuyển lên Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh để trải nghiệm du lịch thương mại biên giới.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đỗ Thị Diệu Hạnh
Nếu tạo được sự liên kết này, sản phẩm du lịch sẽ có thêm nhiều lớp trải nghiệm. Đáng chú ý, dòng khách cũng tạo thêm đầu ra cho những sản phẩm được sản xuất ngay tại địa phương. “Hệ thống logistics du lịch thông suốt sẽ mở ra không gian tiêu thụ nông sản rộng lớn tại chỗ. Cà-phê, chanh dây, mắc-ca, mật ong rừng, bưởi da xanh… của người dân Gia Lai sẽ trực tiếp đi vào chuỗi cung ứng dịch vụ nhà hàng, khách sạn, nâng cao thu nhập thực tế cho đồng bào dân tộc thiểu số”, đồng chí Hạnh bày tỏ.
Ở góc độ quản lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn chỉ rõ những hạn chế trong tổ chức hạ tầng thời gian qua: Một số nơi, quy hoạch và triển khai hạ tầng còn manh mún, thiếu đồng bộ. Quy trình từ khâu lập ý tưởng, phê duyệt chủ trương đến khi triển khai dự án thường kéo dài, làm lỡ nhiều thời điểm thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân.
“Trước bối cảnh tái cấu trúc không gian phát triển, việc tính toán liên kết vùng là bài toán bắt buộc. Sự kết hợp giữa vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn, năng lượng tái tạo của đại ngàn Gia Lai với hệ thống cảng biển, hạ tầng logistics và đô thị du lịch biển của các tỉnh, thành phố lân cận sẽ tạo nên một nền kinh tế quy mô, có sức chống chịu cao trước các biến động toàn cầu”, đồng chí Phạm Anh Tuấn khẳng định.
Trước bối cảnh tái cấu trúc không gian phát triển, việc tính toán liên kết vùng là bài toán bắt buộc. Sự kết hợp giữa vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn, năng lượng tái tạo của đại ngàn Gia Lai với hệ thống cảng biển, hạ tầng logistics và đô thị du lịch biển của các tỉnh, thành phố lân cận sẽ tạo nên một nền kinh tế quy mô, có sức chống chịu cao trước các biến động toàn cầu
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn
Để lợi thế không gian thật sự kết tinh thành giá trị kinh tế du lịch, sự vươn mình của các tuyến đường cao tốc cần song hành với nỗ lực nâng cấp toàn diện hệ sinh thái dịch vụ tại điểm đến. Đây không phải là câu chuyện của riêng Gia Lai mà với hầu hết các địa phương. Khi giao thông, lưu trú, văn hóa và thương mại được tổ chức thành một chuỗi giá trị thống nhất, hành trình “nối biển với đại ngàn” mới thật sự cất cánh.


