Phát triển kinh tế biển xanh, bền vững
Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị không chỉ giữ vai trò bảo tồn hệ sinh thái biển có giá trị cao, mà còn được định hướng trở thành hạt nhân phát triển kinh tế biển xanh, du lịch sinh thái và sinh kế bền vững.

Đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) được định hướng trở thành hạt nhân phát triển kinh tế biển xanh, du lịch sinh thái và sinh kế bền vững. (Ảnh: TTXVN)
Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị không chỉ giữ vai trò bảo tồn hệ sinh thái biển có giá trị cao, mà còn được định hướng trở thành hạt nhân phát triển kinh tế biển xanh, du lịch sinh thái và sinh kế bền vững. Việc áp dụng khoa học, công nghệ trong quản lý cùng với ý thức chung tay bảo vệ cảnh quan, môi trường biển sẽ giúp Cồn Cỏ phát triển tương xứng tiềm năng vốn có.
Với vị trí nằm ngoài khơi, nơi giao thoa của nhiều điều kiện hải dương học đặc trưng, vùng biển Cồn Cỏ có giá trị nổi bật về đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản và cảnh quan biển đảo.
Từ năm 2009, Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ được thành lập, có diện tích hơn 4.300ha, gồm ba phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ-hành chính.
Bảo tồn cần tạo ra giá trị mới cho cộng đồng
Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản giai đoạn 2007-2018 đã ghi nhận 954 loài sinh vật biển tại khu vực. Trong đó, hệ sinh thái rạn san hô được đánh giá vẫn còn tương đối nguyên vẹn và có mức độ đa dạng loài cao trong khu vực Vịnh Bắc Bộ.
Các khảo sát đã xác định 137 loài san hô, phân bố quanh đảo với diện tích rạn khoảng 274ha, độ phủ san hô trung bình đạt 32,63%. Bên cạnh san hô, hệ sinh thái biển Cồn Cỏ còn có rong biển, thực vật phù du, động vật phù du, cá rạn và nhiều nhóm động vật đáy.
Sự đa dạng này tạo nên một mạng lưới sinh thái có giá trị cao, cung cấp nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương dưỡng cho nhiều loài thủy sinh.
Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái biển, trong đó, một số loài san hô và sinh vật biển có giá trị bảo tồn cao đang được ưu tiên theo dõi, bảo vệ.
Tuy nhiên, cũng như nhiều hệ sinh thái biển khác, Cồn Cỏ chịu tác động từ biến đổi khí hậu, hoạt động khai thác thủy sản, rác thải đại dương. Ngư cụ thất lạc và các tác động tích lũy từ hoạt động của con người ngày càng gia tăng khiến việc thu gom và vận chuyển rác từ đảo vào bờ gặp nhiều khó khăn.
Ông Trần Khương Cảnh, Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ cho biết, qua nhiều lần trực tiếp lặn biển kiểm tra, ông tận mắt chứng kiến rác nhựa, dây cước, lưới bắt cá... đe dọa làm gãy, che phủ san hô và chết sinh vật biển.
Vì vậy, những năm gần đây, Ban Quản lý phối hợp chính quyền địa phương, lực lượng chức năng và ngư dân triển khai nhiều hoạt động thu gom rác, gỡ lưới trên rạn san hô và tuyên truyền giảm rác thải nhựa.
Những giải pháp này hướng tới xây dựng mô hình quản lý rác phù hợp với điều kiện đảo nhỏ.
Theo ông Cảnh, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải chuyển từ tư duy bảo tồn mang tính “đóng cửa” sang quản trị tài nguyên biển dựa trên khoa học, sự tham gia của cộng đồng và phân bổ hợp lý không gian sử dụng biển.
Nếu bảo tồn khiến người dân mất sinh kế thì mục tiêu phát triển bền vững khó đạt được. Trong bảo tồn biển, con người và thiên nhiên phải trở thành những chủ thể cùng hưởng lợi, chứ không đứng ở hai phía đối lập.
Một hướng đi cần được thúc đẩy là chuyển đổi dần các sinh kế có nguy cơ gây tác động lớn đến hệ sinh thái sang các hoạt động thân thiện hơn, như dịch vụ hậu cần nghề cá, nuôi biển phù hợp với sức tải môi trường, vận tải du lịch, hướng dẫn trải nghiệm, dịch vụ lặn và các hoạt động du lịch sinh thái có kiểm soát.
Sau hơn 15 năm hoạt động, khu bảo tồn đang từng bước chuyển từ mục tiêu bảo vệ đơn thuần sang mô hình bảo tồn gắn với phát triển bền vững.
Hiện đại hóa quản lý để phát triển kinh tế biển
Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ Nguyễn Văn Hòa cho biết, trên cơ sở những giá trị nổi bật, công tác quản lý đang được định hướng theo hướng hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ số như hệ thống thông tin địa lý, dữ liệu không gian, ảnh viễn thám và các công cụ trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phân tích hình ảnh rạn san hô.
Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ sẽ giúp theo dõi biến động hệ sinh thái, cảnh báo sớm và nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy việc ứng dụng công nghệ số không thay thế hoàn toàn công tác tuần tra, lặn giám sát hay điều tra thực địa, nhưng đã giúp giảm phụ thuộc vào phương pháp thủ công, tăng khả năng lưu trữ, so sánh dữ liệu và xác định các khu vực cần ưu tiên kiểm tra.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, việc quản lý tài nguyên có thể chuyển dần từ xử lý sự việc sang quản trị rủi ro chủ động, dựa trên bằng chứng.
Mới đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành quyết định phê duyệt kế hoạch quản lý Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ giai đoạn 2026-2030.
Đây là cơ sở quan trọng để triển khai đồng bộ các nhiệm vụ bảo vệ hệ sinh thái trọng yếu, phục hồi nguồn lợi thủy sản, tăng cường năng lực quản lý, thúc đẩy sinh kế bền vững và huy động các nguồn lực xã hội, hợp tác trong nước và quốc tế cho công tác bảo tồn.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị Nguyễn Hữu Vinh cho rằng, bảo tồn biển cần được xem là nền tảng cho phát triển kinh tế xanh và du lịch bền vững.
Cùng với đó, tỉnh đang nghiên cứu mở rộng không gian Khu Bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ lên khoảng 10.000ha. Nếu sớm được phê duyệt, việc mở rộng sẽ tạo điều kiện tăng tính liên kết sinh thái, bảo vệ tốt hơn các bãi đẻ, bãi giống, khu vực kiếm ăn và hành lang di chuyển của sinh vật biển.
Việc làm này đồng thời tạo không gian quản trị đủ lớn để kết nối bảo tồn với phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
Để mục tiêu đó trở thành hiện thực, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đặc khu Cồn Cỏ, lực lượng thực thi pháp luật trên biển, cộng đồng ngư dân, nhà khoa học, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ.
Một khu bảo tồn chỉ thật sự bền vững khi hệ sinh thái được bảo vệ tốt, nguồn lợi có khả năng phục hồi và người dân nhìn thấy lợi ích lâu dài từ việc gìn giữ tài nguyên.
Việc làm ý nghĩa này nhằm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với trọng tâm là chuyển từ phát triển kinh tế biển sang phát triển không gian biển; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực, đồng thời gắn bảo tồn với khai thác hợp lý tài nguyên biển.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/phat-trien-kinh-te-bien-xanh-ben-vung-post979129.html











