Phát triển kinh tế không gian tầm thấp: Bài toán làm chủ công nghệ

Kết luận số 99-KL/TW đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế không gian tầm thấp đến năm 2045. Để hiện thực hóa định hướng này, Việt Nam cần thúc đẩy nghiên cứu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hoàn thiện cơ chế thử nghiệm, thương mại hóa công nghệ UAV.

Ngày 28/9/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 99-KL/TW về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới. Kết luận xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới và không gian chủ quyền đặc biệt, đồng thời đặt ra định hướng khai thác, quản trị và bảo vệ nguồn lực này gắn với phát triển kinh tế - công nghệ..

Theo định hướng này, đến năm 2045, kinh tế không gian tầm thấp được kỳ vọng đóng góp khoảng 1,5% GDP quốc gia. Trước mắt, Việt Nam phấn đấu đưa vào vận hành ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia và ít nhất một trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về phương tiện bay không người lái (UAV) vào năm 2030.

Sử dụng máy bay không người lái trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh. (Ảnh: Trần Khánh)

Sử dụng máy bay không người lái trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh. (Ảnh: Trần Khánh)

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, cần phát triển hệ sinh thái không gian tầm thấp với sự tham gia của các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Trong đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là những yếu tố quan trọng. Với chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, Bộ KH&CN có vai trò quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu, thúc đẩy làm chủ công nghệ, kết nối các chủ thể và hỗ trợ đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Từ quản lý công nghệ đến thúc đẩy hình thành ngành kinh tế mới

Một trong những thay đổi đáng chú ý của Kết luận 99-KL/TW là cách tiếp cận không gian tầm thấp như một nguồn lực phát triển kinh tế, thay vì chỉ xem xét hoạt động của các phương tiện bay.

UAV là phương tiện quan trọng, nhưng không đại diện cho toàn bộ nền kinh tế này. Đằng sau một chuyến bay tự động có thể là hệ thống định vị, cảm biến, trí tuệ nhân tạo (AI), viễn thông, phần mềm điều khiển, nền tảng dữ liệu và các giải pháp quản lý giao thông không người lái. Chuỗi giá trị còn bao gồm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất linh kiện, bảo dưỡng, vận hành và cung cấp dịch vụ chuyên ngành.

(Ảnh minh hoạ)

(Ảnh minh hoạ)

Chính phạm vi liên ngành đó khiến vai trò của Bộ KH&CN trở nên đáng chú ý. Phát triển ngành công nghiệp UAV không chỉ đòi hỏi năng lực sản xuất phương tiện mà còn phụ thuộc vào khả năng làm chủ các công nghệ nền tảng, phần mềm và dữ liệu. Đây là những yếu tố có thể giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Ngược lại, nếu làm chủ được các công nghệ lõi, dữ liệu và phần mềm điều khiển, doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thay vì phụ thuộc vào thiết bị và giải pháp nhập khẩu.

Theo định hướng tại Kết luận 99-KL/TW, tỷ lệ nội địa hóa các dòng UAV chủ lực phục vụ sản xuất được đặt mục tiêu đạt trên 30-40% vào năm 2030 và trên 85% vào năm 2045. Đây không đơn thuần là chỉ tiêu sản xuất, mà còn phản ánh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Để góp phần hiện thực hóa mục tiêu này, việc định hướng nhiệm vụ nghiên cứu cần gắn với khả năng ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Các nhiệm vụ ưu tiên cần xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, địa phương và các ngành kinh tế. Việc đầu tư cho nghiên cứu cần gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, địa phương và các ngành kinh tế, tránh tình trạng kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở sản phẩm thử nghiệm hoặc mô hình trình diễn.

Một hướng đi quan trọng là tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Theo đó, các viện nghiên cứu và trường đại học có thể đảm nhiệm việc nghiên cứu, phát triển công nghệ; doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu thị trường và thương mại hóa sản phẩm; cơ quan quản lý xây dựng cơ chế hỗ trợ, tiêu chuẩn và điều kiện thử nghiệm phù hợp.

Cách tiếp cận này cũng giúp giải quyết một điểm nghẽn phổ biến của đổi mới sáng tạo: khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Một công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi có khách hàng, mô hình vận hành, khả năng mở rộng và phương án bảo đảm hiệu quả kinh tế.

Hoàn thiện cơ chế, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương

Vai trò của Bộ KH&CN không chỉ nằm ở thúc đẩy nghiên cứu mà còn ở việc tham gia kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm, kiểm chứng và phát triển thành sản phẩm, dịch vụ thương mại.

Ngày 9/10/2026, tại hội thảo về phát triển hệ sinh thái phương tiện không người lái ở Tây Ninh, đại diện Bộ KH&CN đã trao đổi về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế không gian tầm thấp và vai trò của địa phương. Theo thông tin do Bộ công bố, Tây Ninh đã triển khai bảy giải pháp ứng dụng UAV và đang chuẩn bị đưa vào vận hành hành lang bay thử nghiệm dài 53 km.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính tham dự Hội thảo và tham quan các gian hàng triển lãm tại Ngày hội Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Tây Ninh năm 2026.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính tham dự Hội thảo và tham quan các gian hàng triển lãm tại Ngày hội Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Tây Ninh năm 2026.

Định hướng được đặt ra không dừng ở việc thử nghiệm công nghệ, mà hướng tới kiểm chứng mô hình kinh tế, xây dựng hạ tầng thử nghiệm tích hợp và nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Thực tiễn triển khai tại địa phương có thể cung cấp thêm cơ sở để đánh giá hiệu quả ứng dụng UAV, hoàn thiện cơ chế quản lý và xem xét khả năng nhân rộng các mô hình phù hợp.

Trong quá trình phát triển kinh tế không gian tầm thấp, việc hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là những vấn đề được đặt ra nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng UAV. Theo định hướng tại Kết luận 99-KL/TW, năm 2027 là mốc đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hạ tầng, thiết bị và công nghệ quản lý phù hợp với yêu cầu quốc tế.

Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chi phí và thời gian phát triển sản phẩm. Nếu quy trình thử nghiệm, đánh giá an toàn và chứng nhận sản phẩm chưa rõ ràng, chi phí phát triển công nghệ sẽ tăng, thời gian thương mại hóa kéo dài và nhà đầu tư khó xác định mức độ rủi ro. Ngược lại, một cơ chế minh bạch, có tiêu chí đánh giá cụ thể sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm trong phạm vi phù hợp trước khi mở rộng quy mô.

Tuy nhiên, thúc đẩy ứng dụng không đồng nghĩa với nới lỏng các yêu cầu quản lý. Không gian tầm thấp liên quan trực tiếp đến an toàn hàng không, quốc phòng, an ninh, quyền riêng tư và an toàn dữ liệu. Vì vậy, cơ chế thử nghiệm cần xác định rõ khu vực hoạt động, giới hạn kỹ thuật, trách nhiệm của đơn vị vận hành, phương án xử lý sự cố và điều kiện dừng thử nghiệm khi xuất hiện rủi ro.

Bên cạnh đó, việc phát triển thị trường cần dựa trên nhu cầu thực tế. UAV có thể phục vụ nông nghiệp chính xác, giám sát công trình, kiểm tra hạ tầng, vận chuyển hàng hóa, hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn và ứng phó thiên tai. Nhưng mỗi ứng dụng cần được đánh giá về chi phí đầu tư, độ tin cậy, khả năng tích hợp với hệ thống hiện có và lợi ích so với phương thức truyền thống.

Mục tiêu kinh tế không gian tầm thấp đóng góp khoảng 1,5% GDP vào năm 2045 vì thế không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng UAV được sản xuất, số khu thử nghiệm được hình thành hay số dự án được công bố. Những chỉ số quan trọng hơn là tỷ lệ công nghệ được làm chủ, doanh thu từ sản phẩm và dịch vụ trong nước, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng, cùng hiệu quả kinh tế - xã hội mà các ứng dụng mang lại.

Trong quá trình phát triển kinh tế không gian tầm thấp, Bộ KH&CN có vai trò thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ và hoàn thiện các điều kiện hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm. Điều đó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách nghiên cứu, phát triển công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn lực đầu tư và nhu cầu thị trường.

Không gian tầm thấp chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi công nghệ được chuyển hóa thành năng suất, dịch vụ và năng lực sản xuất trong nước. Đây cũng là thước đo quan trọng đối với hiệu quả triển khai chính sách: Không chỉ mở ra một không gian phát triển mới, mà còn giúp Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ có tiềm năng ứng dụng trong nhiều ngành kinh tế.

Hằng Phạm

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/phat-trien-kinh-te-khong-gian-tam-thap-bai-toan-lam-chu-cong-nghe.html